Danh sách Blog của Tôi

Bài viết được yêu thích

Hiển thị các bài đăng có nhãn Vi sinh vật. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Vi sinh vật. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 23 tháng 11, 2016

Giáo trình Vi sinh vật đại cương

0 nhận xét
          Blog sinh học: Ebooks này là những công trình nghiên cứu nhiều năm của các tác giả vì vậy để ủng hộ tác giả, bạn nên mua sách in hoặc mua 1 cách chính thức
Giáo trình Vi sinh vật đại cương - TS. Hoàng Hải 144 trang

Thứ Sáu, 27 tháng 5, 2016

Vi khuẩn kháng tất cả các loại thuốc được phát hiện tại Mỹ

0 nhận xét
Mức độ nhẹ hơn trước đây chỉ là các vi khuẩn đa kháng thuốc và kháng thuốc rộng.

Một phụ nữ ở tiểu bang Pennsylvania đã trở thành người Mỹ đầu tiên nhận xét nghiệm dương tính với một loại vi khuẩn có khả năng kháng tất cả các loại kháng sinh, ngay cả những dòng thuốc dùng trong trường hợp cuối cùng mà nhân loại sử hữu.
Trường hợp đầu tiên được ghi nhận này đã "báo hiệu sự xuất hiện thực sự của vi khuẩn kháng tất cả các loại thuốc", theo các chuyên gia y tế. Mức độ nhẹ hơn trước đây chỉ là các vi khuẩn đa kháng thuốc và kháng thuốc rộng. Đó có thể đồng nghĩa với "đoạn cuối con đường" cho thời đại thuốc kháng sinh.
 Vi khuẩn kháng tất cả các loại thuốc được phát hiện tại Mỹ.
Báo cáo của trường hợp được đăng tải trên tạp chí khoa học Antimicrobial Agents and Chemotherapy. Các nhà nghiên cứu đến từ Viện nghiên cứu Walter Reed Army, cơ sở khoa học y sinh lớn nhất của Bộ Quốc phòng Mỹ, chỉ ra vi khuẩn đã có mặt trong nước tiểu của một phụ nữ 49 tuổi.
Trước đó vào tháng 4, cô tới phòng khám ở Pennsylvania với các triệu chứng giống như nhiễm trùng đường tiết niệu. Mẫu nước tiểu của cô được gửi đến Trung tâm Y tế Quân đội Hoa Kỳ để thử nghiệm. Kết quả xét nghiệm dương tính với mcr-1, gen đang khiến vi khuẩn trở nên kháng tất cả các loại thuốc kháng sinh, bao gồm cả loại thuốc mạnh nhất cuối cùng, colistin.
Colistin là loại kháng sinh để chống lại các vi khuẩn có khả năng kháng kháng sinh mạnh nhất. Cho tới hiện nay, nó cẫn là công cụ mạnh nhất chúng ta sở hữu để điều trị vi khuẩn đa kháng thuốc. Tuy nhiên, các nghiên cứu mới ngày càng chỉ ra bằng chứng cho thấy rồi colistin cũng mất đi hiệu quả của nó.
Các nhà khoa học lo ngại vi khuẩn bây giờ có thể trao đổi các gen kháng thuốc với nhau. Lời cảnh báo được đưa ra trong cộng đồng vi sinh học vào năm ngoái, khi các gen trao đổi kháng colistin đầu tiên được phát hiện tại Trung Quốc.
Ngay từ khi báo cáo được công bố, cộng đồng y tế toàn cầu đã theo dõi sát sao và tìm kếm sự xuất hiện của các gen này. Các trường hợp đã được ghi nhận tại Châu Âu, Canada và bây giờ là Mỹ. Kết quả xét nghiệm của người phụ nữ tại Pennsylvania cho thấy không có một liều lượng colistin an toàn nào có thể được sử dụng để điều trị cho cô.
Gen mcr-1 đã được xác nhận phải chịu trách nhiệm cho trường hợp này. "Việc phát hiện ra gen này yêu cầu sự giám sát liên tục để xác định các nguồn chứa của nó trong cộng đồng. Xa hơn nữa, rất quan trọng là ngăn chặn sự lây lan của nó", các nhà khoa học viết trong báo cáo.
Cơn ác mộng của loài người đã đến: vi khuẩn kháng tất cả các loại thuốc được phát hiện tại Mỹ - Ảnh 2.
 Vi khuẩn E. coli trước đây cũng có thể mang gen kháng thuốc mcr-1.
Bên cạnh trường hợp đầu tiên được xác nhận trên người, trước đây Trung tâm Phòng chống và kiểm soát dịch bệnh và Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ cũng đã nghiên cứu một trường hợp khuẩn E. coli mang mcr-1 gây nhiễm trùng ở lợn. Mặc dù chưa có bằng chứng, các quan chức Mỹ đang lo ngại rằng có mối liên hệ giữa hai trường hợp này.
Khi các gen có thể được trao đổi giữa các vi khuẩn với nhau, nó sẽ làm trầm trọng thêm tình hình của cuộc khủng hoảng kháng kháng sinh đang diễn ra trên quy mô toàn cầu. Vì vậy, một phản ứng khẩn cấp đang được tiến hành để ngăn chặn sự lây lan của mcr-1.
Nói về trường hợp đầu tiên của mcr-1 được ghi nhận trên người tại Mỹ, giám đốc Trung tâm Phòng chống và kiểm soát dịch bệnh Hoa Kỳ cho biết: "Về cơ bản, điều này cho chúng ta thấy rằng đoạn cuối con đường không còn là rất xa đối với thuốc kháng sinh".
Tuy nhiên, tiến sĩ Gerry Wright, giám đốc Viện truyền nhiễm Michael G.DeGroote cho biết thậm chí nó đã được báo hiệu từ lâu. "Tôi cho rằng các gen đã có mặt từ lâu, chỉ là chúng ta chưa phát hiện ra chúng. Bởi vì bệnh nhân không có báo cáo du lịch, bạn có thể đoán chắc rằng mcr-1 đó là ở Mỹ".

Theo Genk / Trí Thức Trẻ/K14

Thứ Sáu, 15 tháng 5, 2015

Công Nghệ Sinh Học Tập 5: Công Nghệ Vi Sinh Và Môi Trường

4 nhận xét
         Blog sinh học: Ebooks này là những công trình nghiên cứu nhiều năm của các tác giả vì vậy để ủng hộ tác giả, bạn nên mua sách in hoặc mua 1 cách chính thức

 Giáo trình Công nghệ sinh học - Tập 5: Công nghệ vi sinh và môi trường (Phần 1)do PGS.TS. Phạm Văn Ty, TS. Nguyễn Văn Thành biên soạn sẽ cung cấp cho bạn đọc các kiến thức về cồn nhiên liệu, thuốc trừ sâu vi sinh, trợ sinh, xử lý nước thải bằng biện pháp sinh học, phục hồi sinh học, bảo tàng giống vi sinh vật.



Lời giới thiệu:

Công nghệ sinh học tập 5

Chương 1. Công nghệ sản xuất Insulin

Chương 2. Vacxin

Chương 3. Interferon

Chương 4. Ứng dụng vi sinh vật trong chế biến thực phẩm

Chương 5. Công nghệ sản xuất Acid hữu cơ

Chương 6. Cồn nhiên liệu từ Lignocellulose

Chương 7. Thuốc trừ sâu vi sinh

Chương 8. Trợ sinh

Chương 9. Xử lý nước thải bằng biện pháp sinh học

Chương 10. Phục hồi sinh học

Chương 11. Bảo tàng giống vi sinh vật

Công nghệ sinh học là bộ môn tập hợp các ngành khoa học và công nghệ gồm: sinh học phân tử, di truyền học, vi sinh vật học, sinh hóa học, công nghệ học, nhằm tạo ra các quy trình công nghệ khai thác ở quy mô công nghiệp các hoạt động sống của vi sinh vật, tế bào động, thực vật để sản xuất các sản phẩm có giá trị phục vụ đời sống, phát triển kinh tế – xã hội và bảo vệ môi trường.

Các ĐH ở Việt Nam hiện đang đào tạo một số chuyên ngành như công nghệ vi sinh, công nghệ tế bào, công nghệ mô – công nghệ protein -enzym và kỹ thuật di truyền, công nghệ sinh học (CNSH) nông nghiệp, CNSH công nghiệp, CNSH môi trường, CNSH thực phẩm, CNSH y dược, tin – sinh học.

Sinh viên tốt nghiệp ngành này được công nhận là cử nhân hoặc kỹ sư, làm việc tại các lĩnh vực: y dược (chẩn đoán bệnh, chế biến thuốc, vắcxin); môi trường (xử lý môi trường, đánh giá mức độ độc hại của sản phẩm, xử lý chất thải…); nông – lâm – ngư – nghiệp (giống, bệnh, chất lượng); công nghiệp (lên men công nghiệp, vật liệu sinh học…




Công Nghệ Sinh Học Tập 5 - Công Nghệ Vi Sinh Và Môi Trường - Gs.Ts.Phạm Văn Ty, 176 Trang



Nguồn
: Internet
Tác giả
Gs.Ts.Phạm Văn Ty
Mật khẩu
: sinhhoc.blogspot.com
Download


                                                                        Blog Sinh học là nơi chia sẻ sách báo, luận văn bài giảng và cập nhật thông tin về khoa học,  y tế, động thực vật, di truyền, và nhiều hơn nữa...

Thứ Tư, 17 tháng 4, 2013

Tìm ra cách trồng cây "đẻ" ra vàng

0 nhận xét
Tiền không mọc trên cây nhưng vàng thì có thể. Một nhóm nhà khoa học quốc tế đã tìm được cách phát triển và thu hoạch vàng từ các loại cây trồng.

Kỹ thuật khai thác vàng có tên gọi phytomining sử dụng cây cối để chiết xuất các hạt kim loại quý từ đất. Một số loài thực vật được trời phú cho khả năng thấm hút qua rễ và cô đặc kim loại chẳng hạn như niken, catmi và kẽm ở lá và rễ. Suốt nhiều năm qua, các nhà khoa học đã khám phá ra cách sử dụng những loại cây siêu hấp thụ (hyperaccumulator) này để loại bỏ chất ô nhiễm.

Tuy nhiên, trước đây, giới nghiên cứu chưa từng biết đến loại cây siêu hấp thụ vàng tự nhiên nào. Lí do là vì, vàng không dễ hòa tan trong nước nên cây cối không có bất kỳ cách tự nhiên nào để thấm hút các hạt kim loại quý này qua rễ của chúng.

"Trong những điều kiện hóa học nhất định, chúng ta có thể tạo ra tính tan cho vàng", Chris Anderson, một chuyên gia địa hóa chất môi trường thuộc Đại học Massey University ở New Zealand, nói.


Các nhà khoa học đã tìm được cách phát triển và 
thu hoạch vàng từ cây trồng. (Ảnh: Shutterstock)
Cách đây 15 năm, ông Anderson lần đầu tiên đã chứng minh có khả năng bắt các cây mù tạt hút vàng từ đất từng qua xử lý hóa chất và có chứa các hạt vàng.

Cơ chế hoạt động của kỹ thuật trên về cơ bản như sau: Tìm một loại cây sinh trưởng nhanh với số lượng lá trên mặt đất nhiều, chẳng hạn như cây mù tạt, cây hoa hướng dương hoặc cây thuốc lá. Trồng các cây đó trên đất có chứa vàng, thậm chí cả trên những đống chất thải hoặc bãi rác xung quanh các mỏ vàng cũ cũng tốt.

Khai thác vàng theo cách phổ biến hiện nay không thể trích lấy được 100% vàng từ các khoáng chất xung quanh, vì vậy một số vàng nhất định có thể bị lãng phí. Một khi các cây trồng phát triển tới chiều cao tối đa, nhóm nghiên cứu sẽ xử lý đất bằng một chất hóa học làm cho vàng hòa tan. Khi cây bay hơi, kéo hút nước lên và thoát ra ngoài thông qua các lỗ nhỏ trên lá của nó, quá trình này sẽ hút thấm cả nước chứa vàng từ đất lên và tích tụ trong sinh khối của cây. Sau đó, nhóm nghiên cứu chỉ việc thu hoạch vàng.

Vàng thu được tìm thấy trong thực vật chỉ là các hạt nano. Vì vậy, đây có thể là tiềm năng lớn cho ngành công nghiệp hóa chất, lĩnh vực vốn sử dụng các hạt nano vàng như vật xúc tác cho những phản ứng hóa học.

Ông Anderson nhận định: "Kỹ thuật phytomining vàng sẽ không thay thế các cách khai thác vàng truyền thống. Giá trị của nó nằm ở chỗ giúp xử lý, khắc phục hậu quả của các khu mỏ vàng bị ô nhiễm".
Các hóa chất được sử dụng để hòa tan vàng cũng kích thích cây cối thấm hút những chất gây ô nhiễm đất như thủy ngân, thạch tín và đồng - những chất gây ô nhiễm phổ biến trong rác thải ở khu mỏ vàng, có thể gây nguy hiểm tiềm tàng cho con người và môi trường.
Ông Anderson hiện đang bắt tay cùng các nhà nghiên cứu ở Indonesia để phát triển một hệ thống chống đỡ dành cho các thợ khai thác vàng thủ công, quy mô nhỏ để sử dụng kỹ thuật mới nhằm giảm sự ô nhiễm thủy ngân từ hoạt động của họ.
Tuy nhiên, một số nhà khoa học cảnh báo, các nguy cơ đối với môi trường đi liền với việc phát triển vàng có thể rất lớn. Xyanua và thiocyanate, những hóa chất độc hại thường được các công ty sử dụng để khiến vàng lộ ra khỏi vỉa đá, chắc chắn phải được dùng để hòa tan các hạt vàng vào nước trong đất. "Bản thân quá trình này đã có thể tạo ra các vấn đề môi trường", J. Scott Angle, nhà nông học đến từ Đại học Georgia (Mỹ), nhấn mạnh.
Theo Vietnamnet

Thứ Năm, 7 tháng 3, 2013

Xuất hiện dòng vi khuẩn lây lan không thể cứu chữa

0 nhận xét
Trong một nghiên cứu mới đây nhất, Trung tâm Kiểm soát và phòng chống dịch bệnh Mỹ (CDC) đã cảnh báo về một dòng vi khuẩn "khó trị" đang lan nhanh tại các cơ sở y tế của nước này, đe dọa đến sức khỏe của bệnh nhân và thậm chí có thể gây ra các nhiễm trùng không thể cứu chữa được.

Báo cáo trên được công bố trên ấn phẩm "Vital Signs" của CDC ngày 5/3. Theo các quan chức CDC, loại vi khuẩn chết người này là vi khuẩn enterobacteriaceae kháng lại kháng sinh carbapenem (CRE).
Enterobacteriaceae là một họ vi khuẩn đường ruột, gồm trên 70 loài trực vi khuẩn Gram âm, trong đó có khuẩn Ê.coli thường sinh sống trong cơ quan tiêu hóa.

Ảnh minh họa

Các nhà khoa học cho biết trải qua nhiều năm, một số vi khuẩn thuộc nhóm enterobacteriaceae có khả năng kháng lại kháng sinh carbapenem. Nhóm kháng sinh này được dùng một cách rộng rãi trong điều trị bệnh, đặc biệt có vai trò nhất định trong điều trị những trường hợp đa đề kháng có liên quan đến trực khuẩn Gram âm.

Tác giả của nghiên cứu trên cho biết các loại kháng sinh mạnh nhất mà họ sử dụng không có tác dụng với CRE, khiến bệnh nhân tử vong do nhiễm trùng nặng không thể chữa được. Báo cáo còn chỉ ra hơn một nửa số bệnh nhân đã chết sau khi bị nhiễm trùng máu bắt nguồn từ vi khuẩn này.

Các nhà khoa học còn cho biết loại vi khuẩn này rất dễ phân tán nhanh tại các cơ sở y tế, chủ yếu từ tay của các nhân viên y tế, sau đó truyền sang người bệnh, thậm chí cả những người khỏe mạnh. Nguy cơ nhiễm khuẩn CRE còn cao hơn đối với những bệnh nhân điều trị dài ngày tại bệnh viện, những bệnh nhân tiếp cận những phương pháp điều trị đặc biệt và những người già sử dụng dịch vụ y tá tại nhà.

Báo cáo trên còn dẫn chứng rằng trong 6 tháng đầu năm 2012, gần 200 bệnh viện và các cơ sở điều trị bệnh cấp tính dài hạn đã phải tiếp nhận ít nhất một trường hợp bị nhiễm vi khuẩn CRE. CDC còn cho biết thêm trong thập kỷ qua cơ quan này đã phát hiện một loại vi khuẩn thuộc nhóm CRE tại các cơ sở chăm sóc sức khỏe của 42 bang.

Trước tình trạng này, Giám đốc CDC Tom Fraiden đã ra khuyến cáo các nhân viên y tế và đội ngũ y bác sỹ cần có chiến lược bảo vệ và phát hiện nhằm ngăn ngừa sự lan nhanh của vi khuẩn CRE. Ngoài ra, các nhà khoa học cũng khuyên các bác sỹ sử dụng kháng sinh một cách sáng suốt hơn, bên cạnh thiết lập những khu điều trị đặc biệt, trong đó các dụng cụ y tế và nhân viên y tế chỉ tập trung điều trị bệnh nhân bị nhiễm CRE.
Theo Vietnam+

Thứ Bảy, 2 tháng 3, 2013

Vi khuẩn, một phần tất yếu của... nhân loại

0 nhận xét
Blog sinh học: Như chúng ta biết, động vật là nơi trú ngụ của vô số vi sinh vật. Các nhà khoa học đã khám phá ra rằng, một số “kẻ sống bám” tí hon này có khả năng khiến con người lâm trọng bệnh, trong khi số khác lại đóng vai trò thiết yếu trong việc duy trì hệ động – thực vật bình thường bên trong cơ thể chúng ta. 

Và còn rất nhiều điều thú vị về chúng mà bạn có thể chưa biết …

Cơ thể người dung chứa nhiều vi sinh vật hơn tế bào

Cơ thể con người đầy ắp vi trùng. Một số nhà nghiên cứu nói rằng, bên trong cơ thể bạn, số lượng tế bào vi khuẩn nhiều gấp 10 lần tổng số tế bào của con người. “Số lượng chính xác là bao nhiêu không quan trọng. Điều đáng lưu tâm là, các tế bào vi khuẩn trong cơ thể của chúng ta chắc chắn nhiều hơn các tế bào của con người", nhà vi sinh vật Martin Blaser đến từ Trường Dược, Đại học New York, nhấn mạnh.

Cơ thể con người chứa đầy ắp vi sinh vật. Ảnh minh họa: Scitech.com
Khi con người tiến hóa, những vi khuẩn này cũng tiến hóa cùng với chúng ta. Rất nhiều loại virus cũng gọi cơ thể con người là “nhà”.

Con người sinh ra không có vi khuẩn

Do có rất nhiều vi khuẩn sống bên trong cơ thể người nên có quan điểm cho rằng, chúng đã có mặt ở đó từ khi chúng ta chào đời. Tuy nhiên, sự thực không phải vậy. Theo chuyên gia Blaser, khi mới sinh ra, cơ thể con người không chứa vi khuẩn và chỉ dần dần “có” chúng trong vài năm đầu đời.

Trẻ em đón nhận đợt vi khuẩn đầu tiên khi đi qua khe sinh nở của người mẹ (đối với những phụ nữ đẻ thường). Tất nhiên, những đứa trẻ sinh mổ không nhận được vi sinh vật theo cách này. Trong thực tế, các nghiên cứu chỉ ra rằng, trẻ sinh mổ có hệ vi sinh vật rất khác so với trẻ sinh thường và có thể đối mặt với nguy cơ cao hơn bị mắc một số loại bệnh dị ứng nhất định và béo phì.

Theo ông Blaser, một đứa trẻ thu nhận được phần lớn thành viên trong hệ vi sinh vật của nó lúc 3 tuổi, thời điểm sự trao đổi chất, các hệ thống miễn dịch, nhận thức và sinh sản của trẻ đang trải qua quá trình phát triển mở rộng.

Vi khuẩn vừa có lợi vừa gây hại cho người

Các nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng, trong khi một số vi khuẩn có thể khiến bạn bị ốm, số khác lại đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì sức khỏe của bạn và giúp bạn chống lại việc nhiễm trùng. Đôi khi, cùng một loại vi khuẩn có thể tạo ra cả 2 ảnh hưởng ấy.

Lấy ví dụ trường hợp của Helicobacter pylori, vi khuẩn gây viêm loét dạ dày. Vi khuẩn này từng được tìm thấy ở hầu hết mọi người trên Trái đất, nhưng sự phổ biến của chúng đã dần giảm xuống và hiện chỉ có khoảng một nửa dân số thế giới dung chứa chúng. Hầu hết số vi khuẩn này không gây ra triệu chứng, nhưng một số lượng nhỏ chúng phát triển thành các vết loét đau đớn trong đoạn có tính axit của đường tiêu hóa (một phát hiện đã được trao giải Nobel Y học năm 2005).

Vi khuẩn vừa có lợi, vừa gây hại cho con người. Ảnh: My Health News

Các nhiễm khuẩn do Helicobacter gây ra có thể chữa trị được bằng thuốc kháng sinh, nhưng ông Blaser và các cộng sự phát hiện, sự thiếu vắng loại vi khuẩn này dường như liên quan tới việc xuất hiện các bệnh thực quản, chẳng hạn như viêm thực quản trào ngược và một số bệnh ung thư thực quản. Mặc dù không phải tất cả các nhà khoa học đều tán đồng quan điểm này nhưng “có nhiều bằng chứng cho thấy Helicobacter vừa có lợi, vừa gây hại xét về mặt sinh học”, ông Blaser nói.

Kháng sinh có thể gây bệnh hen và béo phì

Penicillin là một đột phá quan trọng khi Alexander Fleming phát hiện ra nó vào năm 1928. Thuốc kháng sinh được ưa chuộng rộng rãi kể từ đó, nhưng việc lạm dụng kháng sinh đã dẫn tới việc tăng các chủng vi khuẩn kháng thuốc kháng sinh chết người, chẳng hạn như Staphylococcus aureus kháng Methicillin (MRSA).

Hiện tại, các nhà nghiên cứu đã thu được một số bằng chứng cho thấy, thuốc kháng sinh còn làm tăng nguy cơ mắc bệnh hen suyễn, viêm ruột và béo phì.

Tất nhiên, có những thời điểm việc dùng thuốc kháng sinh là bất khả kháng, đặc biệt đối với một đứa trẻ bị bệnh rất nặng. Tuy nhiên, nhà nghiên cứu Blaser quả quyết, nhiều bệnh thường gặp ở trẻ em, chẳng hạn như nhiễm trùng tai hoặc nhiễm trùng cổ họng, sẽ tự biến mất.

Công dụng của các chế phẩm lợi khuẩn bị phóng đại

Việc công nhận vi khuẩn có thể hữu ích đối với con người đã dẫn tới một cơn sốt các sản phẩm bổ sung lợi khuẩn, bao gồm các vi khuẩn sống được cho là mang lại nhiều lợi ích sức khỏe. Nhiều người sử dụng chúng sau một đợt dùng thuốc kháng sinh. Nhưng liệu chúng có thực sự hữu ích?

"Quan niệm về việc lợi khuẩn giúp tái lập hệ vi sinh vật cơ bản sau khi dùng thuốc kháng sinh là đúng. Nhưng ý tưởng cho rằng, trong tổng số hàng ngàn vi sinh vật trong cơ thể chúng ta, chỉ sử dụng một loài chiết xuất từ bò hoặc bơ là quá ngây thơ”, nhà nghiên cứu Blaser nói. Theo ông, các chế phẩm lợi khuẩn hiện tại được quảng cáo quá tốt nhưng thực tế không mang lại nhiều lợi ích. Ông Blaser tuyên bố, ngành dược một ngày nào đó sẽ phát triển được các sản phẩm lợi khuẩn hữu dụng cho việc chữa trị bệnh tật, nhưng trong thời điểm hiện tại “vẫn còn là một lĩnh vực quá non trẻ”.

Blog sinh học: Tuấn Anh (Theo Live Science)

Thứ Hai, 8 tháng 10, 2012

Phản bác ngô biến đổi gene gây ung thư trên chuột

0 nhận xét

Sau thông tin về nghiên cứu một loại ngô biến đổi gene có thể khiến chuột ung thư, giới khoa học trên thế giới cho rằng, đó là kết quả có ít bằng chứng khoa học đáng tin.

Một nhóm khoa học người Pháp đứng đầu là nhà sinh học phân tử Gilles-Eric Seralini, Đại học Caen, ở Normandy chia 200 con chuột thành 10 nhóm, mỗi nhóm 20 con và cho chúng ăn thực đơn khác nhau là ngô NK603 (ngô biến đổi gene), ngô NK603 được phun thuốc diệt cỏ Roundup (sản phẩm của tập đoàn nông nghiệp Monsanto, Mỹ) trong quá trình trồng, nước có pha thuốc diệt cỏ Roundup và ngô không biến đổi gene (nhóm chứng).

Kết quả là, chuột nuôi bằng ngô biến đổi gene NK603 có đến 50-80% bị ung thư. Đây là lần đầu tiên một sản phẩm biến đổi gene chứng minh có ảnh hưởng lâu dài tới sức khỏe.

Thông tin trên sau khi được công bố đã gặp phải nhiều phản đối của nhà khoa học trên thế giới. Trang Discovery dẫn lời chuyên gia công nghệ sinh học Martina Newell-McGloughlin, Đại học California, Mỹ: “Có rất ít bằng chứng khoa học uy tín trong nghiên cứu".

Các nhà khoa học cho rằng, nghiên cứu ngô biến đổi gene của nhóm nhà khoa học Normany chưa xác thực.
Các nhà khoa học cho rằng, nghiên cứu ngô biến đổi
gene của nhóm nhà khoa học Normany chưa xác thực.

Theo giáo sư David Spiegelhalter, Đại học Cambridge, Anh, số lượng đưa ra nhóm kiểm chứng quá nhỏ, chỉ 10 con chuột đực và 10 chuột cái. "Tôi ngạc nhiên vì sao nghiên cứu đó được công bố. Tôi thấy phương pháp, số liệu thống kê và báo cáo kết quả đều dưới chuẩn mà tôi mong đợi trong một nghiên cứu khắt khe. Tôi có thể không chấp nhận những kết quả này, ngoại trừ nghiên cứu được làm lại một cách đúng đắn", ông David Spiegelhalter nói.

Trên BBC, giáo sư Anthony Trewavas, đại học Edinburgh chỉ ra rằng, thí nghiệm chỉ sử dụng 200 con chuột, số lượng mẫu chỉ có 10 con. Mẫu nghiên cứu còn quá ít để đưa ra kết luận chính xác. "Theo chuẩn nghiên cứu của Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) thì số lượng mẫu cần có trong thí nghiệm là 50 con mỗi nhóm".
"Hơn nữa, về nguyên tắc, trong bất kỳ trường hợp so sánh nào, số lượng mẫu đối chứng cũng phải bằng với số lượng mẫu thử nghiệm. Tỷ lệ so sánh như vậy là khập khiễng".
Giáo sư Maurice Moloney - Giám đốc viện nghiên cứu Rothamsted nói rằng không nên lựa chọn loài chuột để nghiên cứu. Theo ông, loài chuột trắng Sprague-Dawley có vòng đời 2 năm, thường xuyên bị xuất hiện các khối u dạng này khi ăn quá nhiều và không được kiểm soát. Trên thực tế, 86% chuột đực và 72% chuột cái loại này thường xuyên bị ung thư khi sống đến năm thứ 2.

Một số nhà khoa học trên thế giới đặt ra câu hỏi, nếu ngô biến đổi gene gây ung thư thì tại sao tỷ lệ ung thư ở Mỹ lại không cao hơn so với châu Âu trong khi người dân châu Âu ăn ít thực phẩm biến đổi gene hơn Mỹ.

Năm 2009, Ban chuyên gia về sinh vật biến đối gene thuộc Cơ quan an toàn thực phẩm châu Âu kết luận rằng ngô NK603 “an toàn như ngô thông thường”. Trước đây, tạp chí Thực phẩm và Hóa chất cũng đã xuất bản kết quả nghiên cứu khẳng định “không tồn tại ảnh hưởng bất lợi đến sức khỏe của chuột ăn ngô chuyển gene” với thời gian nghiên cứu ngắn hơn - 90 ngày. Đây là quãng thời gian nghiên cứu tiêu chuẩn trên loài chuột.

Tuy nhiên cuộc tranh cãi về nguy cơ thực vật biến đổi gene gây ảnh hưởng đến sức khỏe người vẫn tiếp diễn chưa đến hồi kết.

Theo VNE

Chủ Nhật, 5 tháng 8, 2012

Côn trùng biến đổi gene đe dọa cây biến đổi gene

0 nhận xét
Tình hình côn trùng biến đổi gene nhằm thích nghi với cây trồng biến đổi gene trên đồng ruộng diễn biến phức tạp hơn trong phòng thí nghiệm, một nghiên cứu mới vừa cho biết.


Sâu đục quả bông đang thích nghi với bông biến đổi gene.
Sâu đục quả bông đang thích nghi với bông biến đổi gene. (Nguồn: Leedsblogs)
Những kiểm tra trong phòng thí nghiệm được thực hiện để tìm ra cách khiến côn trùng hại mùa màng không thể kháng lại cây trồng biến đổi gene. Tuy nhiên, những thí nghiệm đó không lường hết được tình hình diễn biến ngoài đồng ruộng.

Nhà khoa học Haonan Zhang ở ĐH Nông nghiệp Nam Kinh (Trung Quốc) và các đồng nghiệp đã xem xét các biến thể gene trong sâu đục quả bông mà họ bắt từ ruộng trồng bông biến đổi gene ở miền bắc Trung Quốc. Họ phát hiện ra rằng sâu đục bông có số lượng biến thể gen phong phú, giúp chúng sống sót trong môi trường cây trồng biến đổi gen.

Ngoài những biến thể gene lặn được quan sát trong phòng thí nghiệm trước đây, các nhà khoa học còn phát hiện nhiều biến thể gene trội, có khả năng chống lại các độc tố do bông biến đổi gene sinh ra để tiêu diệt ấu trùng sâu hại.

Điều này nghĩa là chỉ một bản sao đơn của gene đột biến cũng đủ để sâu bệnh truyền lại đặc tính kháng cây biến đổi gen cho thế hệ sau.

Ngoài ra, biện pháp trồng cây bình thường quanh các cây biến đổi gene - để cho côn trùng không biến đổi gene phát triển và kết hợp với côn trùng biến đổi gene rồi từ đó làm giảm số lượng côn trùng biến đổi gene - không hiệu quả như mong đợi.

Theo Bruce Tabashnik, trưởng khoa côn trùng học ở ĐH Arizona và là đồng tác giả nghiên cứu, ngoài những đột biến gene đã được biết tới, nhóm nghiên cứu đã tìm ra “rất nhiều đột biến gene. Hầu hết những đột biến gen đó đều ở trong cùng một gen, nhưng có một đột biến gene xuất phát từ một gen hoàn toàn khác”.

Theo Đất Việt

Thứ Hai, 30 tháng 7, 2012

Chiêu "đánh bom cảm tử" dị thường của loài mối

0 nhận xét
Trong thế giới côn trùng, tốt nhất là không nên gây hấn với những con mối già vì khi bị chọc giận, chúng có thể trở thành những kẻ khủng bố đánh bom tự sát, theo một nghiên cứu mới.


Nghiên cứu vừa công bố trên số mới nhất của tạp chí Science dường như cho thấy, tự nhiên đã đền bù cho những sinh vật già yếu khả năng đánh trả, mặc dù chúng không còn sống để kể về chiến công hiển hách của mình sau đó.
Một con mối chiến binh (cơ thể to lớn) bên cạnh các mối thợ. Phần màu xanh dương ở nơi tiếp giáp giữa ngực và bụng của một số mối thợ là nơi chứa chất độc có thể phát nổ như bom.
Một con mối chiến binh (cơ thể to lớn) bên cạnh các mối thợ. Phần màu xanh dương ở nơi tiếp giáp giữa ngực và bụng của một số mối thợ là nơi chứa chất độc có thể phát nổ như bom.
Các con mối rốt cuộc cũng có điểm chung với các điệp viên trong thế giới loài người. Trong các bộ phim tình báo ly kỳ, thường khi các mật vụ bị bắt giữ, cuối cùng họ vẫn “thắng” nhờ một viên thuốc độc xyanua giấu trong miệng. Một khi nhai viên thuốc độc, người điệp viên sẽ chết, xóa sạch mọi cơ hội tra tấn và moi tin mật của kẻ thù. Điều này thực tế đã xảy ra trong Thế chiến thứ hai.
Các con mối cũng có hành động tương tự, nhưng thậm chí còn đẩy nó tới một bước xa hơn khi trừ khử không chỉ bản thân mà còn cả những kẻ khác xung quanh chúng.

Jan Šobotnik - một chuyên gia đến từ Viện Khoa học Cộng hòa Séc và các cộng sự đã nghiên cứu về loài mối Neocapritermes taracua vốn xuất hiện chủ yếu ở Trung và Nam Mỹ. Họ phát hiện, rất nhiều con mối thợ có các điểm màu xanh dương nằm tiếp giáp giữa ngực và bụng.

Kích cỡ của những điểm màu xanh này rất khác nhau và thậm chí một số mối thợ không có chúng. Các nhà nghiên cứu nhận thấy, những điểm màu tươi tắn này hóa ra là nơi chứa chất cực độc, bao gồm các tinh thể protein chứa đồng được xếp thành từng cặp. Các tinh thể này sẽ được kích nổ khi chúng tiếp xúc với nước bọt của mối.

Ảnh phóng to chất nổ màu xanh trong "ba lô" của mối thợ.
Ảnh phóng to chất nổ màu xanh trong "ba lô" của mối thợ. (Ảnh: Discovery)

Khi một con mối hiếu chiến phạm một sai lầm không thể vãn hồi là cắn vào một trong những con mối mang chất độc, thì “đùng” - chất độc sẽ phun ra như bom nổ, giết chết “khổ chủ”, kẻ tấn công và có thể cả những kẻ khác ở gần kề đó.

Trang Discovery dẫn lời các nhà nghiên cứu nhận định: “Vì mối thợ đảm nhiệm hàng loạt các nhiệm vụ khác nhau, nên khả năng sẵn sàng phòng vệ bằng cách tự sát như vậy dự kiến sẽ tăng lên khi khả năng thực hiện các nhiệm vụ khác của chúng giảm xuống”.


Nhận định của các nhà nghiên cứu hóa ra lại đúng. Họ phát hiện, khi mối thợ già đi và phần miệng của chúng “cùn” hơn, trọng lượng các tinh thể trong “ba lô xanh” trên lưng chúng lại tăng lên. Mặc dù khả năng ăn mòn của mối già giảm xuống nhưng những con côn trùng này đã trang bị cho mình vũ khí đánh bom tự sát trong cuộc chạm trán với kẻ thù.
Theo Vietnamnet

Thứ Ba, 3 tháng 7, 2012

Coi chừng nhiễm kí sinh trùng chết người từ mèo

0 nhận xét
Phụ nữ bị nhiễm một loại ký sinh trùng trên mèo dễ có xu hướng tự tử hơn những người khác. Tuy nhiên, các nhà khoa học chưa giải thích được tại sao.


Ký sinh trùng Toxoplasma gondii không chỉ cư trú trên mèo mà còn có thể sống trên bất kỳ động vật máu nóng nào. Con người có thể bị nhiễm ký sinh trùng T. gondii khi tiếp xúc với phân mèo, hoặc ăn thịt nấu chưa kỹ, rau chưa rửa. Khi đi vào cơ thể người, T. gondii vẫn có thể tồn tại trong não và tế bào cơ. Chúng được các túi nang bảo vệ nên không bị hệ miễn dịch của cơ thể tấn công.

Ký sinh trùng T.gondii sinh sôi trong ruột mèo.
Ký sinh trùng T.gondii sinh sôi trong ruột mèo. (Nguồn: Livescience)

Một số nghiên cứu cho rằng loại ký sinh trùng này liên quan tới rất nhiều vấn đề sức khỏe như bệnh tâm thần phân liệt, loạn thần kinh chức năng và ung thư não. Nhưng các nhà khoa học vẫn chưa hiểu rõ loại ký sinh trùng này có phải là nguyên nhân trực tiếp gây nên những bệnh đó, hay chỉ là tác động thứ yếu.

Nghiên cứu mới cho rằng T.gondii liên quan tới hành vi tự tử cũng có hạn chế tương tự. Các nhà nghiên cứu không thể khẳng định chắc chắn rằng ký sinh trùng trực tiếp khiến người bị nhiễm tự tử hay không. Họ chỉ tìm ra rằng những những phụ nữ bị nhiễm có xu hướng tự tử cao hơn 1,5 lần so với người không bị nhiễm.

“Chúng tôi không thể nói chắc chắn rằng T. gondii khiến phụ nữ tự vẫn, nhưng chúng tôi tìm ra mối liên hệ giữa hai yếu tố này", Teodor Postolache, chuyên gia tâm thần học ở Trường Y thuộc ĐH Maryland và cũng là trưởng nhóm nghiên cứu, cho biết. “Chúng tôi dự định tiếp tục nghiên cứu để làm rõ hơn mối quan hệ này”.


Có đến 1/3 dân số thế giới bị nhiễm T. gondii, nhưng không biểu hiện triệu chứng gì. Các chuyên gia khuyên phụ nữ mang thai không nên dọn dẹp phân mèo vì có thể vô tình khiến bào thai bị nhiễm ký sinh trùng trực tiếp.

Khi sống trên động vật chủ, T.gondii chơi trò mèo và chuột. Chuột bị nhiễm ký sinh trùng mất cảm giác sợ mùi nước tiểu của mèo. T. gondii còn thay đổi não chuột đến mức mùi nước tiểu của mèo trở nên hấp dẫn với chuột, khiến chuột còn lại gần kẻ thù hơn. Đó là lý do T. gondii liên tục sinh sôi trong ruột mèo.
Tham khảo: Livescience
Theo Đất Việt, Livescience

Thứ Bảy, 26 tháng 5, 2012

Sống 86 triệu năm không cần ăn uống

0 nhận xét
Mới đây, các nhà khoa học Đan Mạch phát hiện một loài vi khuẩn sống dưới đáy sâu của Thái Bình Dương không cần ăn uống mà vẫn tồn tại suốt 86 triệu năm.




Sau khi tiến hành phân tích mẫu đất sét mềm màu đỏ dưới đáy hải lưu Pacific Gyre (khu vực biển hầu như không có sinh vật nào tiếp cận được đáy), các nhà nghiên cứu đã tìm thấy vi khuẩn cực hiếm này.

Sống 86 triệu năm không cần ăn uống

Theo Hans Roy, trưởng nhóm nghiên cứu, kiêm thành viên đội thám hiểm biển, khảo sát lớp trầm tích cổ được thành lập từ năm 2009, cho biết, loài sinh vật biển này sống vùi trong lớp đất sét dưới đáy hải lưu. Nơi đây không có bất kỳ loại chất dinh dưỡng nào có thể tiếp cận để nuôi loài vi khuẩn này.

“Cứ 1.000 năm, loài vi khuẩn trên mới phát triển được khoảng 1mm. Chúng đã xuất hiện dưới mặt đáy cách đây khoảng 86 triệu năm về trước chỉ với một hộp thức ăn. Điều đó chứng tỏ, chúng phải mất hàng nghìn năm để ăn và tiêu hóa hết lượng thức ăn tương đương với cơ thể mình” - Roy nói.

Theo Roy và các đồng nghiệp, vi khuẩn này có quá trình trao đổi chất chậm nhất thế giới với điều kiện sống thiếu oxy và chất dinh dưỡng để giúp chúng tồn tại.

Hiện tại, các nhà nghiên cứu chưa thể xác định chính xác tuổi đời của loài sinh vật này. Chúng có thể được tái tạo nhưng rất chậm với vạch xuất phát kể từ thời khủng long.

Nếu tái tạo thành công loài sinh vật này, các nhà khoa học có thể mở ra cơ hội phát triển sản phẩm chống lão hóa hiệu quả, giúp nâng cao tuổi thọ con người.
Tham khảo: Daily Mail
Theo Tiền Phong, Daily Mail

Thứ Ba, 1 tháng 5, 2012

Phát hiện loài ong "liếm mồ hôi người để sống"

0 nhận xét
Các chuyên gia Mỹ vừa phát hiện một loài ong mới kiếm ăn theo cách hết sức bất thường tại thành phố New York: liếm mồ hôi người để sống.


Một loài ong mới đang vi vu tại thành phố có biệt danh “quả táo lớn” của Mỹ. Loại côn trùng nhỏ xíu, cỡ bằng hạt mè, chủ yếu kiếm ăn trên mồ hôi người, theo nghĩa đen.
Ong mồ hôi tại NewYork
Ong mồ hôi tại NewYork
Tờ The Wall Street Journal dẫn lời nhà côn trùng học John Ascher của Viện Bảo tàng lịch sử tự nhiên Mỹ cho biết những con ong này cứ đậu lên tay và nhấm nháp vị mặn của mồ hôi người.
Bắc Mỹ là quê nhà của hàng ngàn loài ong bản địa, nhưng từ lâu chúng đã bị lãng quên trước đồng loại ong mật nhập cư, vốn cho mật và sáp ngon ngọt hơn.
Do vậy, khi bắt được những chú ong kỳ lạ này tại công viên Prospect ở Brooklyn vào năm 2010, nhà khoa học Ascher phải mất nhiều thời gian mới xác định được danh tính của nó, nhờ sự hỗ trợ của chuyên gia Jason Gibbs tại Đại học Cornell.
Khác với đồng loại châu Âu, ong mồ hôi không làm ra nhiều mật, nhưng hiếm khi đốt người. Chúng rất ưa thích các con mồi là những người hay đổ mồ hôi nhiều, theo chuyên gia Ascher.

Theo Thanh Niên

Thứ Hai, 30 tháng 4, 2012

Phát hiện loại vi khuẩn kháng hầu hết các loại kháng sinh

0 nhận xét

Phát hiện này được công bố bởi các nhà nghiên cứu thuộc hai trường đại học McMaster và Arkon. Họ đã phát hiện ra các chủng vi khuẩn tồn tại trong hang động Lechuguilla chưa từng tiếp xúc với con người này đều có khả năng đề kháng tự nhiên với những loại thuốc kháng sinh đang được sử dụng.



Theo nghiên cứu thì tất cả các loài vi khuẩn ở đây đều có khả năng đề kháng ít nhất là một loại kháng sinh, mặt khác một số được tìm thấy có khả năng đề kháng tới 14 loại kháng sinh. Nghiên cứu về sự phát triển của vi khuẩn kháng thuốc sẽ nhận được sự hỗ trợ rất lớn từ khám phá này bởi vì các dạng vi khuẩn này có thể được sử dụng để điều trị các bệnh nhiễm trùng không thể chữa trị hiện nay.

Hang động Lechuguilaa nằm ở Vườn quốc gia Carlsbad Cavern là một khu vực giới hạn từ khi các nhà nghiên cứu khoa học phát hiện ra nó vào năm 1986. Với độ sâu 1604 feet (489m) và bao quanh bởi đá không thấm nước - điều đó có nghĩa là nó có thể mất đến 10.000 năm để có thể đạt được độ sâu nhất hiện tại. Trong một môi trường như vậy mà các loài vi khuẩn lại có thể kháng được thuốc thực sự là vô cùng kì lạ.


“Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy rằng các loài vi khuẩn này có thể vài triệu năm tuổi, dù vậy chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu trong vòng 70 năm trở lại đây” - giám đốc Gerry Wright, Viện Nghiên cứu bệnh truyền nhiễm Michael G. DeGroote cho biết. “Điều quan trọng là phát hiện này sẽ giúp chúng ta tìm ra cách để ngăn ngừa sự gia tăng các bệnh nhiễm trùng và tìm được phương pháp chữa trị”.


Theo Genk, Gizmag

Thứ Tư, 14 tháng 12, 2011

Khuẩn probiotic giúp chữa lành tổn thương não

0 nhận xét
Các nhà khoa học Trung Quốc cho biết khuẩn probiotic có trong sữa chua và các chất bổ sung khác có khả năng giúp người bệnh bị tổn thương não cải thiện tình trạng bệnh một cách đáng kể.
Nghiên cứu được đăng trên Tạp chí Critical Care.
Khi bị tổn thương não, người bệnh thường phải chịu đựng sự viêm sưng nhiều hơn do não tiết ra chất glucocorticoid để chống lại các viêm nhiễm và ngăn chặn sự lây lan.
Khuẩn probiotic giúp chữa lành tổn thương não
Việc ngăn chặn hệ thống bị viêm nhiễm được tính toán bằng cách thay đổi các tế bào trợ giúp T (Th1 bằng Th2) - các tế bào Th2 này có nhiều ở khuẩn probiotic sẽ kích thích hoạt động các thực bảo lớn chống lại sự viêm nhiễm và tiếp đó thu nhận các tế bào B có liên quan đến việc sản sinh các kháng thể.
Nghiên cứu thử nghiệm tiến hành ở 52 người bệnh có chấn thương về não và đang được chăm sóc điều trị đặc biệt, những người này được chia thành 2 nhóm: nhóm những người chữa trị bằng phương pháp thông thường và nhóm chữa trị bằng phương pháp có bổ sung các thành phần dinh dưỡng chứa khuẩn probiotic.
Kết quả cho thấy những người bệnh có sử dụng khuẩn probiotic đã tăng đáng kể các mứcinterferon (loại protein do tế bào cơ thể sinh ra khi bị virus tấn công nhằm ngăn chặn không cho virus phát triển) và giảm sự lây nhiễm trong khoảng thời gian ngắn hơn.
Theo Vietnam+

Thứ Ba, 22 tháng 11, 2011

Phong lan đầu tiên nở hoa về đêm

0 nhận xét
Mới đây một nhóm các nhà khoa học Hà Lan trong chuyến thám hiểm tới New Britain, 1 hòn đảo gần Papua New Guinea, đã phát hiện loài phong lan chỉ nở vào ban đêm. Phát hiện vừa được công bố trên tạp chí Thực vật học của Hiệp hội Linnean.
Phong lan Nocturnum Bulbophyllum mới phát hiện thuộc họ Bulbophyllum, - với khoảng 2.000 loài - là nhóm lớn nhất trong gia đình phong lan. Mỗi bông lan chỉ nở 1 đêm duy nhất và xuất hiện nụ mới để nở vào hôm sau.

Nocturnum Bulbophyllum là loài phong lan đầu tiên, trong số
khoảng 25.000 loài lan, được biết đến nở hoa vào ban đêm
“Khám phá thật bất ngờ vì có rất nhiều phong lan được biết đến nhưng chưa loài nào được ghi nhận thụ phấn vào ban đêm”, đồng tác giả nghiên cứu Andre Schuiteman, 1 một chuyên gia phong lan tại Vườn Bách Thảo Hoàng Gia Kew nói.
Tại sao lan Nocturnum Bulbophyllum chỉ nở về đêm vẫn còn là 1 bí mật. Các nhà khoa học sẽ đưa mẫu vật đến Hà Lan để làm sáng tỏ vấn đề này.
Khu vực sinh trưởng của Nocturnum Bulbophyllum hiện đang nằm trong địa bàn khai thác gỗ được chính phủ Papua New Guinea cho phép. Điều này sẽ đe doạ sự tồn tại của loài phong lan đặc biệt này.
Andre Schuiteman kêu gọi chính phủ Papua New Guinea bảo tồn những khu vực hoang sơ, nơi có thể còn nhiều loài phong lan chưa được khám phá.
Theo BBC, Đất Việt

Vi khuẩn E.coli cũng có ích

0 nhận xét
Một số chủng của vi khuẩn E.coli có thể chuyển hóa đường trong thực vật thành dẫn xuất axít béo, chất thường được dùng để sản xuất nhiên liệu.
Nhiên liệu sinh học được coi là một giải pháp giúp giảm phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch. Nhưng hiện nhiên liệu sinh học mới chỉ được sản xuất ở quy mô nhỏ và chi phí rất cao.
Mới đây, các nhà khoa học thuộc Đại học Stanford (Mỹ) đã tìm ra giải pháp giúp giảm chi phí bằng quy trình sản xuất trực tiếp từ thực vật với sự tham gia của vi khuẩn E.coli.
Trong những thí nghiệm gần đây, các nhà khoa học phát hiện thấy, một số chủng của vi khuẩn E.coli - có nhiều trong ruột những loài động vật có vú bao gồm cả con người - có thể chuyển hóa đường trong thực vật thành dẫn xuất axít béo. Đây là loại chất hóa học tương tự như xà phòng và có thể được dùng để sản xuất nhiên liệu.
"Tin tốt là bộ máy sản xuất axít béo trong vi khuẩn E.Coli cực kỳ mạnh mẽ", tiến sĩ Chaitan Khosla, người đứng đầu nghiên cứu, cho biết trên Daily Mail"Chúng có thể chuyển hóa đường trong thực vật thành dẫn xuất axít béo với tốc độ phi thường."
Tuy nhiên, quá trình chuyển hóa này vẫn được điều khiển hoàn toàn bởi vi khuẩn và mới chỉ thực hiện được trong phòng thí nghiệm. Dường như vi khuẩn E.Coli hạn chế sản xuất nhằm bảo vệ chúng khỏi tác hại của axít béo do chúng tạo ra.
Tuy nhiên, các nhà khoa học đang nghiên cứu cách điều khiển được vi khuẩn E. Coli để sản xuất axít béo trên quy mô lớn. Nếu thành công, đây sẽ là một bước đột phá trong lĩnh vực sản xuất nhiên liệu sinh học.

Thứ Sáu, 28 tháng 10, 2011

Côn trùng chỉ cần sợ cũng đủ chết

0 nhận xét
Các nhà nghiên cứu Canada nói rằng, sự có mặt của một động vật săn mồi cũng có thể gây căng thẳng đủ để giết chết con mồi, ngay cả khi con vật săn mồi không thực sự bắt được và ăn con mồi, theo hãng tin UPI.
Nhóm chuyên gia thuộc Đại học Toronto khẳng định phát hiện của họ có thể áp dụng đối với mọi sinh vật đối mặt với một mức độ căng thẳng nhất định.
“Cách thức con mồi phản ứng với nỗi sợ hãi bị ăn thịt là một chủ đề quan trọng trong sinh thái học, và chúng tôi đã biết nhiều về việc các phản ứng này tác động đến những tương tác giữa con mồi và động vật săn mồi như thế nào”, chuyên gia sinh học tiến hóa Locke Rowe cho biết.
Trong một cuộc thử nghiệm, ấu trùng chuồn chuồn mới sinh được nuôi trong bể. Một số được nuôi riêng biệt, và số còn lại được nuôi chung trong những bể nơi chúng có thể nhìn thấy và đánh hơi được mùi của động vật săn mồi, dù các con vật này không thực sự có thể ăn thịt chúng.
“Những gì chúng tôi phát hiện là bất ngờ, nhiều chuồn chuồn chết hơn khi con vật săn mồi chia sẻ môi trường sống với chúng”, ông Rowe nói.
Ấu trùng đối mặt với cá hoặc côn trùng săn mồi có tỷ lệ sống sót thấp hơn 2,5-4,3 lần so với ấu trùng không ở trong hoàn cảnh như vậy.
Và sau đó 11% ấu trùng đối mặt với cá đã chết khi chúng cố gắng biến hình sang giai đoạn trưởng thành, so với chỉ 2% ở nhóm ấu trùng sống trong môi trường không có cá.
“Chúng tôi đã cho các con chuồn chuồn mới sinh đi qua giai đoạn biến hình để trở thành các con trưởng thành, và nhận thấy những con lớn lên xung quanh các con vật săn mồi có khả năng thất bại trong việc hoàn thành quá trình biến hình cao hơn, và thường chết trong khi trải qua quá trình này”, ông nhấn mạnh.
Theo Thanh Niên

Thứ Ba, 18 tháng 10, 2011

Giun đất giúp làm chậm biến đổi khí hậu

0 nhận xét


Giun đất có thể giúp giữ nước trong đất vào mùa khô, ngăn chặn lũ lụt và làm giảm tác động của hiện tượng nóng lên toàn cầu.


Giun đất
Loài giun đất đã sống trên hành tinh của chúng ta gần 300 triệu năm qua, nhưng cho tới gần đây, những vai trò quan trọng của chúng chỉ vừa mới được các nhà nghiên cứu người Anh tiết lộ.
Theo các nhà nghiên cứu, trong quá trình đào hang trong đất, loài giun đất đã vô tình giúp đất đai trở nên tơi xốp và tái tạo chất dinh dưỡng; hấp thụ nước và biến đất thành dạng bọt biển ngăn chặn lũ lụt.
Còn trong mùa hạn, chúng lại giúp làm chậm lại quá trình mất nước trong đất. Từ đó, giun đất có thể giúp làm chậm lại ảnh hưởng tiêu cực của biến đổi khí hậu hay hiện tượng nóng lên toàn cầu.
Ngoài ra, giun đất còn đóng vai trò là nguồn thức ăn quan trọng đối với nhiều loài chim khác nhau. Một con giun đất có thể sống thọ tới 10 năm, di chuyển với vận tốc 8m/giờ trên mặt đất.
Mùa sinh sản của giun đất phụ thuộc vào điều kiện khí hậu. Khi môi trường đạt tới nhiệt độ và độ ẩm thích hợp (thường là trong thời kỳ nóng ẩm) loài giun đất sẽ tìm kiếm đối tác để thụ tinh.
Hoạt động giao phối thường diễn ra vào ban đêm. Mỗi một con giun đất, trong điều kiện lý tưởng, có thể sinh sản từ 100 tới 140 con giun con trong một năm.
Theo Giáo dục

Thứ Ba, 11 tháng 10, 2011

Thêm 234 loại virus mới được phát hiện

0 nhận xét

Một nhóm các nhà nghiên cứu trường ĐH Pittsburgh (Mỹ) vừa tiết lộ một tin tức gây sốc trên toàn thế giới khi đưa ra cảnh báo về một lượng lớn vi-rút chưa từng biết đến trước nay có thể đang đe dọa loài người.



Các nhà nghiên cứu cũng phát hiện ra trong nước thải chứa một số lượng lớn vi-rút chưa từng được biết đến lên tới 234 loại.
Các nhà nghiên cứu cũng cảnh báo rằng những loại vi-rút này có thể tác động đến hệ miễn dịch của con người nên cần phải tiến hành nghiên cứu về chúng. Đến bây giờ, các nhà nghiên cứu trên toàn thế giới đã nghiên cứu và phân tích được khoảng 3.000 loại vi-rút khác nhau.
Tuy nhiên, thật cần thiết để nghiên cứu về những loại vi-rút mới phát hiện này bởi chúng có thể tiềm ẩn nguy cơ có hại cho con người. Các nhà nghiên cứu trường Đại học Pittsburgh thông báo rằng những loại vi-rút này bao gồm vi-rút gây bệnh mụn cơm trên người (HPV vi-rút) và Norovirut gây bệnh cúm.
Sau những lời cảnh báo này, một quá trình nghiên cứu về metagenome đã được chuẩn bị để có thể phân tích vi-rút. Hiện các nhà nghiên cứu trường ĐH Pittsburgh đã lấy mẫu nước thải từ Pittsburgh,Tây Ban Nha và Ethiopia để phân tích. Hy vọng rằng họ sẽ sớm tiến hành những thí nghiệm cần thiết để có thể chắc chắn những loại virut này không ảnh hưởng tới sức khỏe con người.
Theo Xã luận

Thứ Tư, 28 tháng 9, 2011

Khuẩn E.coli được mã hóa thông tin bí mật

0 nhận xét

Các nhà khoa học đã phát triển một phương pháp mã hóa thông tin vào vi khuẩn E. Coli nhờ công nghệ di truyền để truyền tải các thông tin bí mật.
Phát hiện này được công bố trong tạp chí Proceedings của Viện Hàn lâm Khoa học Quốc gia Mỹ.
Khuẩn E.coli phát sáng thành các màu khác nhau và được mã hóa thông tin (Ảnh: meningitis101)
Khuẩn E.coli phát sáng thành các màu khác
nhau và được mã hóa thông tin (Ảnh: meningitis101)
Bằng cách thay đổi các gene được chọn lựa của E. coli, các nhà khoa học làm cho những con vi khuẩn này sản xuất các protein huỳnh quang, có thể phát sáng thành 7 màu khác nhau dưới ánh sáng tia cực tím.
Những màu sắc đó sẽ được bố trí để tạo ra một hệ thống mã hóa bằng bảng chữ cái, các số từ 1-9 và một số biểu tượng khác.
Các thông điệp có trong khuẩn E.coli sẽ không thể nào phát hiện được, cho tới khi người nhận mở nó bằng cách nhúng con khuẩn này vào một loại dung dịch đặc biệt.
“Rõ ràng, đây là loại ứng dụng lưu trữ bí mật để truyền tải thông tin an toàn, ngăn chặn giả mạo và cung cấp thông tin một cách xác thực”, tác giả chính của nghiên cứu David Walt thuộc Đại học Tufts ở Massachusetts cho biết.
Nghiên cứu này được Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ tài trợ qua Cơ quan phụ trách các dự án nghiên cứu tiên tiến về quốc phòng (DARPA) Mỹ.
Theo Đất Việt

Lưu trữ Blog

HỌC LIỆU ĐIỆN TỬ
LIÊN KẾT
TAG CLOUD
A http://sinhhoc.blogspot.com/ (15) Ảnh độc đáo (4) Bài báo khoa học (12) Bài báo quốc tế (7) Bài giảng-Giáo trình (81) Bản tin CNSH (6) Biology books (1) Blog sinh học (4) Các cây hoa màu khác (3) Các nhà khoa học (3) Campbell (1) Câu chuyện khoa học (1) Cây lúa (11) Cây ngô (26) Chân dung nhà khoa học (4) Công nghệ lên men (1) Công nghệ mới (6) Công nghệ sinh học (64) Công nghệ thực phẩm (5) Công trình khoa học (14) Di truyền phân tử (3) DNA tái tổ hợp (1) Dự án (1) Đăng báo quốc tế (2) Đề tài (2) Đọc và suy ngẫm (3) Động vật học (29) Ebook Công nghệ sinh học (24) Ebook công nghệ thực phẩm (1) Ebook sinh học (85) Ebook thực vật (11) Ebook Y - Dược (3) English learn (1) Giáo dục và Khoa học (11) Góc nhìn cuộc sống (7) Góc tâm hồn (7) Hiện tượng sinh học (16) Hóa sinh (4) hướng dẫn sử dụng phần mềm (2) Khoa học và ứng dụng (3) kinh nghiệm đăng báo quốc tế (1) kỹ thuật SSR (1) Luận văn - Luận án (6) Luyện thi B1 B2 (3) luyện thi đại học (1) Nghành CNSH làm gì (1) Nghiên cứu khoa học (2) Nông nghiệp (4) Olympic Sinh học (1) PCR và các kỹ thuật liên quan (3) Phần mềm dạy học (2) Phần mềm sinh học (17) Sách công nghệ thực phẩm (3) Sách sinh học (14) Sách sinh y (1) Sách Y khoa (3) Sinh học 12 (1) sinh học đại cương (1) Sinh học phân tử (2) Sinh học phổ thông (5) Sinh học ứng dụng (3) Sinh vật học (8) SSR (1) Tế bào gốc (2) Thế giới tri thức (1) Thông báo (1) thông tin nông nghiệp (2) Thực vật học (37) Tin sinh và Thống kê (9) Tu dien sinh hoc (1) Tuyển dụng (6) Từ điển sinh học (3) Vi khuẩn (1) Vi sinh vật (27) Video clip (2) Video sinh học (5) Vui cười - Hài hước (12) Y học - Cuộc sống (126) Ý tưởng khoa học (10)