Danh sách Blog của Tôi

Bài viết được yêu thích

Hiển thị các bài đăng có nhãn Giáo dục và Khoa học. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Giáo dục và Khoa học. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 19 tháng 2, 2013

Phương pháp Grap trong dạy học Sinh học

0 nhận xét

Sơ lược:
Lời giới thiệu
Lời nói đầu
Chương 1 Lý do của việc vận dụng phương pháp Grap trong dạy học sinh học
Chương 2 Lịch sử nghiên cứu về lý thuyết grap và việc vận dụng lý thuyết Grap trong dạy học
Chương 3 Cơ sở khoa học của việc chuyển hóa Grap toán học thành Grap dạy học
Chương 4 Các nguyên tắc xây dựng Grap trong dạy học
Chương 5 Grap dạy học sinh học
Chương 6 Sử dụng phương pháp Grap trong dạy học sinh học

- DOWNLOAD : http://www.mediafire.com/?iogyu5nq8hrxul7

Blog sinh học: http://sinhhoc.blogspot.com

Thứ Bảy, 26 tháng 1, 2013

Lý do bài báo khoa học bị từ chối và hệ quả

0 nhận xét
              Ở nước ngoài, người ta không có “nghiệm thu” công trình khoa học như ở Việt Nam; thay vào đó, các cơ quan tài trợ đánh giá sự thành công của một công trình nghiên cứu khoa học qua những bài báo đã được công bố trên các tập san có uy tín trên thế giới. Tốt hơn nữa, nếu nghiên cứu có ứng dụng, thì sản phẩm thực tế hay bằng sáng chế là thước đo quan trọng để đánh giá công trình nghiên cứu.


Một bài báo khoa học cần cân bằng cả hai yếu tố: tính khoa học và nghệ thuật viết. Ảnh: TL
Nhưng trong thực tế, phần lớn những bài báo khoa học bị từ chối công bố với tỷ lệ dao động trong khoảng 50 – 99%, tuỳ theo tập san và thời gian. Tập san có uy tín cao thường có tỷ lệ từ chối cao.
Những tập san lâu đời và có ảnh hưởng lớn trong khoa học như Science, Nature, Cell, hay trong y khoa như New England Journal of Medicine, Lancet, JAMA, có tỷ lệ từ chối đến 90 – 99%.
Quyết định từ chối thường xuất phát từ ban biên tập và các chuyên gia bình duyệt. Nhưng rất nhiều trường hợp tác giả không biết tại sao bài báo của mình bị từ chối, vì ban biên tập không giải thích lý do cụ thể.
Quy trình xuất bản
Khác với tạp chí phổ thông (scientific magazine), tập san khoa học (scientific journal) là những diễn đàn khoa học có chức năng chính là chuyển tải và chia sẻ thông tin khoa học trong giới nghiên cứu khoa học, nên văn phong và cách trình bày rất đặc thù và có khi khó hiểu. Các tạp chí không có cơ chế bình duyệt (peer review), nhưng các tập san khoa học nghiêm túc thì có cơ chế bình duyệt mà theo đó bài báo trước khi được công bố phải qua vài giai đoạn kiểm tra và duyệt xét về ý tưởng, phương pháp, cách diễn giải.
Quy trình để xuất bản một bài báo khoa học cũng khá phức tạp. Đầu tiên là tác giả soạn bài báo khoa học và đệ trình đến một tập san. Ban biên tập khi nhận được nếu thấy chưa đạt yêu cầu sẽ từ chối công bố trong vòng một tuần; nếu thấy đạt yêu cầu và có tiềm năng, họ sẽ gửi cho hai hoặc ba chuyên gia bình duyệt. Chỉ một trong ba chuyên gia bình duyệt đề nghị từ chối thì khả năng bài báo sẽ bị từ chối lên rất cao. Có nhiều trường hợp bài báo phải trải qua ba lần bình duyệt, và tốn rất nhiều thời gian (trên 12 tháng) nhưng cuối cùng vẫn bị từ chối!
Nhìn qua quy trình trên, dễ dàng thấy bài báo khoa học bị từ chối ở ba giai đoạn: ban biên tập, bình duyệt, và tái bình duyệt. Một nghiên cứu trên tập san British Medical Journal (một trong những tập san y khoa hàng đầu thế giới) cho thấy trong giai đoạn một (tức ban biên tập), tỷ lệ từ chối là khoảng 50%, ở giai đoạn hai khoảng 45%, còn ở giai đoạn ba là tái bình duyệt, xác suất bị từ chối khoảng 5%.
Lý do từ chối: ban biên tập
Lý do từ chối bài báo trong giai đoạn 1 có thể liệt kê vào ba nhóm chính:
Không thích hợp cho tập san là lý do ban biên tập từ chối rất nhanh. Tập san khoa học có đẳng cấp riêng trong chuyên ngành, và đẳng cấp này có thể phân biệt qua hệ số ảnh hưởng (impact factor, viết tắt là IF). Tập san có IF cao cũng có nghĩa là có ảnh hưởng lớn, và những tập san này chỉ công bố những công trình quan trọng. Nếu công trình nghiên cứu không thuộc vào loại “đột phá” thì không nên gửi cho các tập san như Science và Nature, mà nên xem xét đến các tập san chuyên ngành.
Thiếu cái mới: nói chung, ban biên tập ưa chuộng công bố những nghiên cứu có cái mới về phương pháp, cách tiếp cận, kết quả, cách diễn giải... Những công trình nghiên cứu “me too” (tức lặp lại hay bắt chước nghiên cứu trước đây) khó có cơ hội công bố trên các tập san có tiếng. Những nghiên cứu mà câu trả lời hay kết quả chẳng ảnh hưởng gì đến chuyên ngành, chẳng gây tác động gì đến chính sách công hay thực hành lâm sàng cũng khó có cơ hội được công bố.
Vấn đề ngôn ngữ: có khá nhiều bài báo có nội dung tốt, nhưng vì cách trình bày luộm thuộm, thiếu tính logic, vẫn bị từ chối. Một số bài báo bị từ chối vì tiếng Anh quá kém, thậm chí sai chính tả.
Lý do từ chối: chuyên gia bình duyệt
Các chuyên gia bình duyệt là những người bán nặc danh, chỉ có ban biên tập mới biết họ là ai. Chuyên gia bình duyệt biết tác giả, nhưng tác giả không biết các chuyên gia này là ai. Do đó, tác giả phải hết sức cẩn thận và khách quan trong cách trình bày bài báo, hoặc trả lời bình duyệt sao cho lịch sự, không tấn công cá nhân, để không gây ấn tượng xấu với các đồng nghiệp bình duyệt.
Các chuyên gia bình duyệt sẽ có 1 – 3 tháng để báo cáo cho ban biên tập, và trong báo cáo có phần đề nghị chấp nhận hay bác bỏ bài báo. Trong báo cáo đó, các chuyên gia bình duyệt phải nói lý do tại sao họ đi đến quyết định chấp nhận hay từ chối bài báo. Xem qua những lý do mà các chuyên gia bình duyệt từ chối bài báo có thể tóm lược trong bốn nhóm chính:
Tầm quan trọng và thiếu cái mới trong công trình nghiên cứu là lý do hàng đầu (80% bài báo bị từ chối với lý do này). Thiếu tính ứng dụng cũng là một lý do để từ chối.
Phương pháp: một nghiên cứu về lý do từ chối trên 25 nhà khoa học từng đoạt giải Nobel Y sinh học, 67 tổng biên tập và 50 chuyên gia bình duyệt của các tập san y sinh học cho ra kết quả: 71% bài báo bị từ chối là do thiết kế nghiên cứu có vấn đề. Những khiếm khuyết về cách tiếp cận, thiết kế nghiên cứu, phương pháp đo lường, quy trình thực hiện, phân tích dữ liệu... thường được nhắc đến như là những lý do từ chối.
Về trình bày dữ liệu, có ba nguyên nhân chính dẫn đến bài báo bị từ chối đăng: trình bày dữ liệu không đầy đủ (32%), có mâu thẫn giữa các dữ liệu trình bày (25%) và không cung cấp đầy đủ chi tiết về phương pháp nghiên cứu (25%). Về cách viết, các khoa học không ưa cách viết sử dụng từ ngữ hoa mỹ và sáo rỗng, dùng những từ “đao to búa lớn”. Khoảng 43% bài báo với những từ ngữ như văn chương chính trị bị từ chối công bố. Ngoài ra, diễn đạt ý tưởng không khúc chiết (21%) và câu văn thừa (11%) cũng là những nguyên nhân bị từ chối.
Địa phương chủ nghĩa?
Phần lớn các tập san khoa học mang tính quốc tế, hiểu theo nghĩa ban biên tập nhận bài từ tất cả các nhà khoa học trên thế giới. Câu hỏi đặt ra là có sự khác biệt nào về tỷ lệ từ chối giữa các nước hay không.
Theo thống kê của các tập san y khoa lớn như New England Journal of Medicine, JAMA, không có khác biệt lớn về tỷ lệ từ chối giữa các nước Mỹ (hay nói tiếng Anh) và ngoài Mỹ. Tuy nhiên, đối với các tập san chuyên ngành thì có sự khác biệt lớn, chẳng hạn như tập san Circulation Research (chuyên về tim mạch, IF~10), mỗi năm nhận được khoảng 2.000 bài báo từ khắp các nước, nhưng chủ yếu từ Mỹ (44%), Âu châu (31%), Nhật (6%), và Á châu (9%, không kể Nhật). Tỷ lệ từ chối chung là 85%, không khác mấy so với tỷ lệ từ chối các bài báo từ Hàn Quốc (88%), Đài Loan (91%). Riêng Trung Quốc, có đến 99% bài báo gửi cho tập san Circulation Research bị từ chối vì chất lượng quá kém và tiếng Anh chưa đạt.
Một phân tích thú vị khác của tập san American Journal of Roentgenology (IF ~4) cho thấy trong thời gian 2003 – 2005, tập san này nhận được 5.242 bài báo khoa học từ khắp nơi trên thế giới, chủ yếu từ Mỹ (43%), Nhật (11%), Hàn Quốc (9%), Đức (5%), và Canada (4%). Tỷ lệ bài báo được chấp nhận cho đăng dao động lớn giữa các nước: trong số 2.252 bài báo từ Mỹ, 72% được chấp nhận cho công bố, và trong tổng số 2.990 bài báo ngoài Mỹ, tỷ lệ được chấp nhận là 60%. Nước có tỷ lệ chấp nhận thấp nhất là Ấn Độ, với 27%. Phân tích chi tiết theo ngôn ngữ mẹ đẻ, thì trong số 2.684 bài báo từ các nước nói tiếng Anh, tỷ lệ chấp nhận cho công bố là 71%. Trong số 2.558 bài báo xuất phát từ những nước không nói tiếng Anh, tỷ lệ chấp nhận chỉ 60%.

Theo SGTT

Chủ Nhật, 8 tháng 7, 2012

Ngăn chặn sự dối trá trong khoa học

0 nhận xét
Sự dối trá, giả tạo đã len lỏi trong khoa học bằng các công trình sao chép… Với những tồn tại này, khoa học không thể mong lĩnh vực khoa học-công nghệ có những công trình sáng giá.

Đây là những ý kiến tâm huyết của không ít nhà khoa học đầu ngành tại buổi đóng góp ý kiến cho Luật Khoa học và công nghệ (KH-CN) sửa đổi do Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức vào hôm 5.7 tại Hà Nội. Dự kiến Luật sẽ trình Quốc hội vào năm 2013.
Trả lại sự nghiêm túc cho khoa học
Trình bày về sự cần thiết phải sửa đổi luật, ông Đỗ Hoàng Giang, Vụ Phápchế, Bộ Khoa học và Công nghệ (KH-CN) cho rằng, Luật KH-CN đã đượcban hành cách đây 12 năm và đến nay, đã bộc lộ một số bất cập về nội dung cũng như hình thức văn bản. Có nhiều quy định không còn phù hợp với thực tiễn và hệ thống pháp luật hiện hành; nhiều điều khoản còn chung chung, hiệu lực thi hành thấp… Dự thảo Luật sửa đổi gồm có 80 điều, chia thành 8 chương (bỏ 14/59 điều, sửa đổi 39/59 điều của luật hiện hành, bổ sung 35 điều mới).
Luật sửa đổi đã thể hiện  ước vọng tháo gỡ những vướng mắc, tắc nghẽn trong cơ chế tài chính, quản lý khoa học… Tuy nhiên, có rất nhiều điểm cácnhà khoa học mong muốn được thể hiện  và chặt chẽ hơn.
Nếu không có động lực, sẽ khó để khoa học phát triển
Giáo sư-Viện sĩ (GS.VS) Trần Đình Long, Chủ tịch Hội giống cây trồng Việt Nam nêu, vấn đề tài chính và tín dụng cho KH-CN (điều 54-59) hiện nay vẫn là khúc mắc nhất, nhưng trong dự thảo còn khá chung chung. Khoản 5 của điều 54 ghi  các nhiệm vụ KH-CN sử dụng ngân sách nhà nước được thực hiện theo cơ chế khoán chi và được cấp kinh phí chủ yếu thông qua các quỹ trong lĩnh vực KHCN. Thế nhưng khoán như thế nào mới là điều cần bàn thìlại chưa được thể hiện. “Cần phải  quy định cụ thể các đề tài dự án phải được kiểm toán độc lập, công khai, minh bạch để không làm khó cho các chủ nhiệm”.
Báo Đất Việt phối hợp với Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển truyền thông khoa học-Công nghệ, Bộ KH&CN tổ chức buổi Giao lưu trực tuyến với chủ đề “Đổi mới quản lý KH&CN, phương thức đầu tư, cơ chế tài chính và phát triển nguồn nhân lực KH&CN” vào hồi 9 - 11h ngày 10/7/2012 tại Trụ sở Báo Đất Việt (108 Trường Chinh, Đống Đa, Hà Nội).
Một thực tế cũng được VS Long nêu, yêu cầu xuất hóa đơn tài chính, khi nhà khoa học nghiên cứu về giống, thấy giống của người nông dân tốt, muốn mua, song làm sao nôngdân  hóa đơn đỏ để xuất. Khi đó, chủ nhiệm đề tài lại lo đi “chạy” hóa đơn. Đây là một cáchlàm gian dối nhưng vẫn buộc phải thực hiện và đôi khi mất tới 75% quỹ thời gian thực hiện đề tài.
TS Nguyễn Ngọc Kính, Hội Giống cây trồng Việt Nam cũng nêu hàng loạt bức xúc. Ôngcho rằng Luật KH-CN sửa đổi phải làm chặt chẽ hơn nữa để trả lại sự nghiêm túc cho khoa học. Thực tế hiện nay  quá nhiều chươngtrình, đề tài, dự án chồng chéo nhưng rồi vẫn nghiệm thu và cho qua. TS Kính nêu ví dụ, Bộ KH-CN có rất nhiều chươngtrình KH-CN trọng điểm cấp nhà nước (mang mã số KC) như KC04 - Nghiên cứu, phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học, Bộ Nông nghiệp vàphát triển nông thôn lại có Chương trình phát triển sinh học trong nông nghiệp kinh phí lên tới hàng trăm tỉ. Với các Chương trình KC, Bộ KH-CN  thể thành lập hội đồng liên ngành để nghiệm thu, nhưng với những chương trình lớn hàng trăm tỉ của các bộ khác ai sẽ là người đứng ra thẩm định (?!).
GS.TSKH Nguyễn Đức Ngữ, Trung tâm KH-CN Khí tượng Thủy văn và Môi trường cũng nêu một sự “lộn xộn” đang tồn tại. Bản thân GS Ngữ từng chứng kiến một vị không biết gì về khí hậu nhưng lại chủ nhiệm 2 đề tài. Đến mức, ngay cả việc tính tổng lượng mưa cũng không biết tính thế nào. Thế nhưng, họ lại được quyền đứng tên 2 đề tài vì là lãnh đạo Viện và điều đó đang được Luật KH-CN cho phép. “Điều này cần phải được điều chỉnh trong Luật sửa đổi để những việc “chướng tai gai mắt” không còn tồn tại nữa”, GS Ngữ nói.
Phải tạo được động lực
Hành lang pháp lý không  ràng sẽ tạo những kẽ hở dễ “lách”, để rồi những người làm thật ngày càng nản. GS Ngữ như nói từ tâm can mình, rằng nếu không sửa đổi, khoa học thực sự sẽ còn đi xuống nữa. “Nếu chỉ nói vài câu chung chung KH-CN là động lực, quốc sách hàng đầu mà không có động lực và giải pháp thực sự thì kể cả đầu tư tài chính nhiều hơn nữa thì vẫn sẽ là yếukém và thiếu hiệu quả”, GS Ngữ bức xúc.
GS.TS Nguyễn Minh Thuyết, nguyên Đại biểu Quốc hội cũng nêu, đầu tư cho KH-CN chưa tương xứng với vị trí quốc sách hàng đầu. Ngân sách nhà nước chỉ dành cho KH-CN được 2% nhưng không không phải tỉnh nào cũng chi đủ. Trong khi đó, đầu tư từ các nguồn lực xã hội cho KH-CN gần như khôngđáng kể. Các doanh nghiệp thì tìm cách mua công nghệ thiết bị lạc hậu đã qua sử dụng ở nước ngoài để kiếm lời nhờ chênh lệch giá… Những vướng mắc đã phần nào thể hiện được trong dự thảo luật nhưng nhìn chung vẫn chưa nêuđược những giải pháp cụ thể.
GS-VS Long cho rằng, Luật sửa đổi cần phải quy  trách nhiệm để từ cơ quan quản lý đến chủ nhiệm đề tài  trách nhiệm hơn với kết quả nghiên cứu,tránh tình trạng rút tiền xong, kết quả bỏ ngăn kéo.
Bích Ngọc

Thứ Bảy, 8 tháng 10, 2011

Làm thế nào để "kích thích" nhân tài?

0 nhận xét

Chỉ cần đặt người tài vào một môi trường không thích hợp với tài năng của họ, ngăn chặn các mối liên kết giữa họ với môi trường tất nhiên của họ, tự khắc tài năng đó cũng sẽ mai một rồi thui chột.
Tài năng nào cũng chỉ xuất hiện từ môi trường mà ở đó nó được ươm mầm, nuôi dưỡng, chăm sóc, kích thích, thúc đẩy để tài năng tự thể hiện mình rồi phát triển và tiếp tục phát triển. Điều này cực kỳ quan trọng đối với chiến lược nhân tài.

Tài năng và môi trường

Không thể mơ đến sự xuất hiện của tài năng ở những nơi mà điều kiện không cho phép tài năng xuất hiện. Đại học đẳng cấp quốc tế không thể xuất hiện ở những nơi mua bằng, bán điểm. Nhà nghiên cứu tầm cỡ không xuất hiện từ những người làm khoa học nhưng quay lưng lại với thành tựu bên ngoài. Tác phẩm có giá trị không ra đời từ môi trường vi phạm trắng trợn tác quyền. Nhà quản lý tài ba không thể trở tay được trong thiết chế gồm toàn những người chú tâm đến lợi ích nhóm…

Với chiến lược nhân tài, việc tạo cơ chế để người tài thiết lập môi trường thuận lợi cho công việc của họ là tối cần thiết. Cần phải có những ưu tiên đáng kể để người tài được giao tiếp, sinh hoạt, trao đổi chuyên môn với đồng nghiệp của họ ở phạm vi thế giới chứ không chỉ trong nước. Ở phạm vi quốc gia, các môi trường đang bị vẩn đục cần phải được làm sạch. Dĩ nhiên điều này rất khó, vì nó phụ thuộc vào các chính sách, cơ chế, thậm chí thói quen… của tổng thể đời sống kinh tế - xã hội. 

Tài năng nào cũng chỉ xuất hiện từ môi trường mà ở đó nó được ươm mầm, nuôi dưỡng. (Ảnh chỉ mang tính chất minh họa. Nguồn: internet)                       

Rất khách quan và cũng rất khó trách cứ, có những môi trường gần như không có chỗ cho những nhân tài cụ thể nào đó xuất hiện hoặc phát triển đến cùng tài năng của mình. 

Thời gian gần đây, trên các phương tiện thông tin đại chúng đã có một số bài báo phân tích khá sâu sắc môi trường thực tế khiến những người như Ngô Bảo Châu, Đặng Thái Sơn… trở thành tài năng. 

Môi trường thế giới là cái không thể thiếu cho tài năng tầm cỡ thế giới của họ. Còn với những người có tài khác, đừng cho là phi lý khi giả định rằng, rất có thể ở đâu đó trên đất Việt Nam vẫn có những người không kém tài ba, nhưng khi chưa kịp trở thành nhân tài thì họ đã vội trở thành những người bình thường lẫn trong hàng triệu người bình thường khác. 

Ban ơn - hàm ơn làm méo mó giá trị xã hội

Hiện tại, môi trường cho tài năng ở Việt Nam quả thật còn nhiều điều bất hợp lý, thậm chí nhức nhối, cần phải suy ngẫm tìm cách giải quyết trong và ngoài khuôn khổ của Chiến lược quốc gia về nhân tài. Có thể kể đến một vài biểu hiện tương đối rõ về những ảnh hưởng tiêu cực của môi trường đến sự xuất hiện và phát triển của tài năng như: Tình trạng cạnh tranh thiếu lành mạnh, can thiệp để thao túng chính sách, đấu thầu không sòng phẳng, quảng cáo gian lận… đã làm cho thị trường đôi khi bất chấp quy luật mà cũng chẳng theo được những định hướng sáng suốt. 

Hiện tượng này không phải là hiếm trong các hoạt động kinh tế. Một môi trường như vậy thật khó cho những tài năng trong sản xuất, kinh doanh phát triển lành mạnh, nhất là những tài năng “ngây thơ” trong ứng xử hoặc thiếu kinh nghiệm về những tiểu xảo.

Tiếp đến là tình trạng vi phạm bản quyền, thù lao lao động trí tuệ (làm ra bản thảo) quá bất hợp lý đã làm nản lòng những người sáng tạo, phá hỏng động lực làm ra tác phẩm có giá trị. Hệ quả tai hại của tình trạng này là người có tài ít để tâm vào việc sáng tạo và công bố những tác phẩm “để đời”; tác phẩm kiệt xuất do vậy không có cơ hội nảy nở và hoàn thành, cái tài của người tài vì thế mà cũng mai một đi.

Tình trạng tham nhũng và tham nhũng lớn ngày càng khó phát hiện, ngày càng vô hiệu hoá được sự can thiệp của công lý, cùng với nạn “chạy chức chạy quyền”, “chạy việc làm”, “chạy bằng cấp”, “chạy trường”… thậm chí “chạy khen thưởng”, “chạy danh hiệu”, “chạy án”… đã tệ hại đến mức được coi là bình thường, ai cũng thấy mà rồi ai cũng có ý định (hay buộc phải) làm ngơ. Môi trường này dùng tính từ nào để phê phán cũng vẫn là chưa đủ. Đất nước thật khó hóa rồng hóa hổ nếu cơ chế vẫn khiến người dân còn làm ngơ với những tệ nạn này. Mọi tài năng, có lẽ trừ những tài năng kiệt xuất, mới có thể phát triển bình thường trong một môi trường như vậy. 

Đừng để các tài năng bị thui chột .( Ảnh chỉ mang tính chất minh họa. Nguồn: internet)

Trong các hoạt động có liên quan đến cơ quan nhà nước, cơ chế xin cho - một kiểu quan hệ tưởng đã chết cùng với thiết chế bao cấp, nhưng thực ra vẫn sống nhởn nhơ và đang lộng hành nhờ sự tăng trưởng của nền kinh tế. Với cơ chế xin cho, mọi nhu cầu xã hội dù đương nhiên hoặc chính đáng đến mấy cũng buộc phải “đi xin”, nhất là trước cơ quan công quyền. Danh vị, công lý, thậm chí cả tâm linh, nếu có nhu cầu vẫn phải đi xin. Mọi trách nhiệm xã hội ở đây đều biến tướng thành ban ơn và hàm ơn. Người tử tế thì ban ơn không đòi hàm ơn; còn người được ban ơn nếu không hàm ơn thì chí ít cũng bị coi là người không ra gì. 

Ở phạm vi toàn xã hội, ứng xử kiểu này có thể là tiện lợi vì nó được việc, nhưng gây méo mó các quan hệ xã hội. Ngày nay tư duy về trách nhiệm xã hội đương nhiên của người làm công ăn lương để phục vụ người khác rất mờ nhạt. Tư duy ban ơn đối với người được phục vụ lại rất phổ biến, thậm chí đến cả người gác cổng. Điều đáng ngại hơn là số đông chúng ta lại sẵn sàng hàm ơn, hàm ơn một cách tủn mủn.

Bên cạnh cơ chế xin cho là hệ thống quản lý tài chính máy móc, phức tạp. Tưởng là chặt, hoá ra chỉ có thể trói buộc được các hoạt động ngay thẳng, liêm khiết. Nhiều hoạt động của các tổ chức nhà nước nếu muốn triển khai theo đúng yêu cầu của thực tiễn, không hiếm khi buộc phải dựa trên các chứng từ giả dối. “Chi tiêu gì hóa đơn đó” là nguyên tắc không thể thực hiện được. Trên thực tế, điều này tạo ra những kẽ hở cho tham nhũng, lãng phí, và điều đáng nói hơn là gây ra hệ lụy khác rất lớn về phương diện xã hội: Dối trá ngày càng có nguy cơ trở thành bình thường, miễn là chứng từ chi tiêu hợp lệ, miễn là “nói dối được pháp lý hóa”.Điều kiện phát sinh “giả khoa học”.

Giáo dục và khoa học, thi cử và bằng cấp… là những lĩnh vực liên quan trực tiếp đến môi trường của tài năng, nhân tài. Những hạn chế trong giáo dục mấy năm gần đây báo chí gần như này nào cũng nói mà đến nay vẫn chưa có gì báo hiệu một tương lai sáng sủa hơn. Nhìn từ lát cắt về môi trường xã hội thì các hoạt động này đang bị thao túng bởi bảng giá trị xã hội lệch lạc: Ngày nay, bằng cấp, danh hiệu quan trọng hơn trình độ thực, năng lực thực. Có một số doanh nghiệp và tổ chức xã hội đã tuyên chiến với tình trạng này khi tuyển người, nhưng chống không nổi. Dạy và học vẫn khó đi đúng quỹ đạo của giáo dục là học để làm người, học để làm việc, học để có tri thức và văn hóa. 

Cơ chế quản lý giáo dục có gì đó không ổn khiến cho mọi phản biện, góp ý dù là chân thành nhất từ nhiều năm nay cũng đều trở thành vô nghĩa. Cái xấu của thị trường len lỏi vào giáo dục làm cho quan hệ thày trò đôi khi bị vấy bẩn. Các cơ sở đào tạo vẫn hàng ngày sản xuất ra những sản phẩm kém chất lượng. Khoảng cách đáng kể của khoa học so với khu vực và thế giới chưa được rút ngắn. Nhiều đề tài khoa học, vô tình hay hữu ý, vẫn rơi vào tình trạng giả khoa học (Pseudosience, Pseudo-problem).

Trong các dạng tài năng thì tài năng trong lĩnh vực lãnh đạo, quản lý là một dạng đòi hỏi vừa phải đủ chuyên sâu lại vừa phải có tầm nhìn bao quát, khoáng đạt, dài hạn với tâm thế quản lý đòi hỏi vừa nghiêm khắc và vừa đại lượng. 

Tuy nhiên, bảng giá trị xã hội cho quản lý, trong khi quá thiên lệch về giá trị “làm quan” lại cũng đồng thời quá khe khắt trong nhìn nhận những đóng góp của tài năng quản lý. Rất hiếm có những thành đạt nào khác được cả cộng đồng dễ dàng tôn vinh như thành đạt trên con đường hoạn lộ. Nhưng cũng rất hiếm có những đánh giá kịp thời hay cổ vũ đúng lúc cho những quyết sách táo bạo tài ba của những nhà quản lý. Với cá nhân các nhà quản lý cụ thể, trên báo chí người ta chỉ có thể bắt gặp hoặc là những những tâng bốc thiếu khách quan hoặc là chê trách hoài nghi. 

Đứng trước những đòi hỏi mới của sự phát triển đất nước, môi trường cho tài năng, nhân tài ở Việt Nam vẫn còn nhiều bất cập, khiếm khuyết. Nếu muốn đề cao, tôn vinh hay phát tuy tính tích cực xã hội của nhân tài, thì chưa chắc đã cần đến lương bổng hay đãi ngộ, mà chỉ cần đặt nhân tài vào đúng chỗ của họ, tạo mọi điều kiện để họ được tự do thiết lập những liên kết tất nhiên của họ với môi trường, tự khắc tài năng của họ sẽ được nhân lên, làm lợi cho chính họ và cho sự phát triển của đất nước. 
GS.TS.Hồ Sĩ Quý, Viện trưởng Viện Thông tin Khoa học Xã hội

Thứ Năm, 29 tháng 9, 2011

Người Việt Nam nhận giải thưởng Eureka 2011

0 nhận xét

Tiến sĩ Chu Hoàng Long là đồng tác giả người Việt duy nhất được nhận giải thưởng Eureka 2011 - giải thưởng khoa học uy tín và danh giá nhất Australia được trao cho công trình nghiên cứu “Mô hình lưu lượng dòng chảy đo lường lượng nước có thể sử dụng cho sản xuất nông nghiệp và lượng nước cần dự trữ để bảo vệ môi trường”. Nhân dịp này, TS. Chu Hoàng Long đã dành riêng cho PV một bài trả lời đầu tiên về thành công của công trình nghiên cứu.
“Đề tài đưa ra một công cụ hiện thực để xác định cách thức phân bổ tài nguyên nước một cách tối ưu”
 
Người Việt được nhận giải thưởng Eureka 2011, TS Chu Hoàng Long
Tháng 9 năm nay giải thưởng Eureka 2011 - giải thưởng khoa học uy tín và danh giá nhất Australia được trao cho công trình nghiên cứu “Mô hình lưu lượng dòng chảy đo lường lượng nước có thể sử dụng cho sản xuất nông nghiệp và lượng nước cần dự trữ để bảo vệ môi trường” của nhóm nghiên cứu: GS. R.Quentin Grafton (chủ trì), GS. Tom Kompas, TS. Chu Hoàng Long đến từ Đại học Quốc gia Australia (ANU) và GS. Michael Stewardson ( Đại học Melbourne).
Đại học Quốc gia Australia là đối tác lâu năm và thân thiết của Ipsard. Tiến sĩ Chu Hoàng Long là đồng tác giả người Việt duy nhất được nhận giải. Nhân dịp này, TS. Chu Hoàng Long đã dành riêng cho Agroinfo một bài trả lời đầu tiên về thành công của công trình nghiên cứu. Agroinfo xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc:
-Thưa TS. Chu Hoàng Long, được biết ông và đồng sự mới nhận được giải thưởng Eureka 2011, giải thưởng quan trọng nhất cho những người làm khoa học của Australia, xin ông cho biết cảm nhận của mình khi được nhận giải thưởng cao quý này?
Cảm nhận đầu tiên của tôi là vui mừng. Rất vui vì nỗ lực của cả nhóm nghiên cứu trong đó có bản thân mình được mọi người ghi nhận. Và sau đó, chắc cũng giống mọi người khi đón nhận tin vui, tôi nhớ đến những người thân, các bạn bè, đồng nghiệp ở Úc cũng như ở Việt Nam đã từng hỗ trợ, giúp đỡ mình rất nhiệt tình.
-Trên cơ sở nào nhóm nghiên cứu quyết định chọn lĩnh vực này để nghiên cứu thưa ông?
 Một trong những vấn đề liên quan đến quản lý tài nguyên nước là cân đối giữa nước dành cho dân sinh và nước dành cho môi trường. Ở hầu hết các hệ thống sông trên thế giới, rất nhiều đập lớn được xây dựng để trữ nước, và từ những con đập này, nước được phân bổ cho các hoạt động sản xuất và sinh hoạt.
Điều này, một phần giúp thỏa mãn nhu cầu sử dụng nước của con người, nhưng đồng thời cũng gây ra những tác động không nhỏ tới môi trường, ảnh hưởng tiêu cực tới cuộc sống của người dân: chế độ thủy văn bị đảo lộn, các hệ thống sông bị cạn kiệt, các loài thủy sản không còn môi trường phát triển, các vùng sinh thái bị ảnh hưởng v.v.
Trong nhiều trường hợp, các tác động về môi trường là khá lớn, đặc biệt trong những giai đoạn thời tiết không thuận lợi, ví dụ khô hạn kéo dài 8-10 năm. Vì vậy, các nhà hoạch định chính sách trong lĩnh vực tài nguyên nước cần có công cụ để xác định mức độ phân bổ nguồn nước một cách tối ưu và đề án nghiên cứu đã đưa ra một lời giải cho bài toán này.
-Đề tài được giải thưởng là đề tài nghiên cứu về phương án “Phân bố tài nguyên nước một cách tối ưu”, xin ông cho biết kết quả nghiên cứu của đề tài này và ý nghĩa thực tiễn ra sao?
Nhóm nghiên cứu đã phát triển một mô hình giúp xác định phân bổ nguồn nước thế nào để tối ưu hóa lợi ích của xã hội trong khi vẫn đảm bảo tính bền vững của môi trường. Mô hình này có thể áp dụng cho tất cả các hệ thống thủy lợi trên thế giới. Nếu muốn áp dụng vào khu vực nào, ta chỉ cần tính toán các tham số tương ứng với khu vực đó và đưa vào mô hình để tính ra cách phân bổ nguồn nước.
Để minh họa, mô hình được áp dụng cho một trường hợp cụ thể là vùng Murray Darling của Úc. Các phân tích cho thấy là việc ứng dụng kết quả của mô hình trong giai đoạn 2001-2009 tại vùng Murray Darling sẽ giúp tăng lợi ích ròng của xã hội lên khoảng từ 500 triệu đến 3 tỷ USD so với những gì đã thực sự đã diễn ra trong cùng thời gian.
TS. Chu Hoàng Long và một thành viên nhóm nghiên cứu

-Có một điều mà chúng ta đang rất quan tâm, đó là sự tác động của các nghiên cứu khoa học đối với các nhà hoạch định chính sách. Theo quan điểm của ông, đề tài nghiên cứu này sẽ có những tác động và hỗ trợ cho quá trình ra quyết định của các nhà hoạch định chính sách như thế nào?
Trường Kinh tế Quản trị Crawford của Đại học Quốc gia Úc, nơi tôi đang làm việc, là một trường chuyên tập trung vào hoạt động đào tạo và nghiên cứu ứng dụng cho chính sách. Đề tài này là một trong những hoạt động thuộc loại này vì kết quả nghiên cứu không bó hẹp trong phạm vi khoa học thuần túy mà còn nhằm tạo ra sự thay đổi trong chính sách quản lý nguồn nước và môi trường.
Ý nghĩa thực tiễn của đề tài là đã đưa ra một công cụ hiện thực cho các nhà hoạch định chính sách để xác định cách thức phân bổ tài nguyên nước một cách tối ưu. Ngoài ra, kết quả của mô hình còn cho thấy cách thức phân bổ tài nguyên nước cho môi trường nên được thực hiện theo chu kỳ (pulse effects).
Nói cách khác, khi có thể kiểm soát lưu lượng dòng chảy của các con sông, con người nên tạo ra chế độ thủy văn (ví dụ khoảng cách giữa 2 đợt lũ) gần giống như chế độ thủy văn trước khi các đập chứa nước được xây dựng. Điều này góp phần khẳng định một thực tế là để tối ưu hóa lợi ích của chính mình, con người không nên đi ngược lại với tự nhiên.
-Xin ông cho biết thêm về ý kiến đánh giá của các nhà khoa học chuyên ngành đối với đề tài nghiên cứu này?
 Việc đề tài được trao giải thưởng Eureka đã phần nào nói nên sự đánh giá tích cực của các nhà khoa học về nghiên cứu này. Như lời ông Frank Howarth, Giám đốc của Australia Museum đánh giá điều quan trọng là mô hình này có ý nghĩa toàn cầu bởi nó có thể áp dụng cho tất cả các hệ thống sông trên thế giới. Đây cũng là mô hình đầu tiên trên thế giới giúp các nhà lãnh đạo và hoạch định chính sách có căn cứ khoa học để đưa ra quyết sách phân bố nguồn nước có lợi cho cả môi trường và kinh tế.
Toàn văn bài nghiên cứu được đăng tải trên tạp chí “Water Resource Research” số 47, năm 2011. Đây là một trong những tạp chí quan trọng nhất về tài nguyên nước. Các bài được công bố trên tạp chí này đều phải trải qua quá trình phản biện độc lập.
Theo nguyên tắc, nhóm nghiên cứu không được biết ai là người phản biện bài viết của mình nhưng chắc chắn họ đều là các chuyên gia tầm cỡ, nếu như không nói là hàng đầu thế giới. Ngay từ bản thảo đầu tiên, những nhà phản biện đều đã đánh giá cao về công trình này, chỉ gợi ý một số chỉnh sửa nhỏ để giúp người đọc dễ tiếp cận hơn với những khía cạnh kỹ thuật của bài viết.
-Ông có dự định thực hiện các nghiên cứu, ứng dụng khoa học và tham gia giảng dạy tại Việt Nam trong tương lai hay không?
 Ngoài nhu cầu cập nhật các tiến bộ mới nhất trong lĩnh vực nghiên cứu, tôi nghĩ một người làm khoa học cũng có nhu cầu phổ biến những tiến bộ này để góp phần nâng cao hiệu quả chung của xã hội. Vì vậy, tôi rất vui khi được tham gia vào công tác giảng dạy cũng như là các hoạt động nghiên cứu, ứng dụng khoa học ở Việt Nam. Sắp tới, tôi sẽ tham gia giảng một khóa học về các phương pháp định lượng kinh tế ở trong nước.
Theo Agroinfo/Bee.net

Sự vô vọng của việc xếp hạng các tạp chí khoa học

0 nhận xét

Xếp hạng tạp chí khoa học và xếp hạng trường đại học là hai xu hướng toàn cầu vừa mới nổi lên trong thời gian gần đây, và đã tạo ra nhiều tác động về chính sách đối với khoa học và giáo dục đối với nhiều nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Tuy nhiên, như bất cứ một xu hướng mới nào, tác động của việc xếp hạng tạp chí khoa học luôn có hai mặt, tích cực và tiêu cực. 
Để hiểu rõ hơn về các tác động tiêu cực của việc xếp hạng tạp chí, xin giới thiệu với bạn đọc bài viết của Ellen Hazelkorn - Phó Giám đốc phụ trách nghiên cứu và doanh nghiệp, đồng thời là trưởng nhóm nghiên cứu chính sách giáo dục tại Viện Công nghệ Dublin. Bà còn là tác giả của cuốn sách “Xếp hạng và việc tái định hình giáo dục đại học: Cuộc chiến giành danh hiệu đẳng cấp thế giới” đã được nhà xuất bản Palgrave Macmillan xuất bản vào tháng ba vừa qua. Phương Anh dịch và giới thiệu.
Xếp hạng các tạp chí học thuật là một trong những khía cạnh gây nhiều tranh cãi liên quan đến việc đánh giá công trình nghiên cứu của nhà khoa học, và là một căn cứ quan trọng để xếp hạng các trường đại học; đồng thời việc xếp hạng này có ảnh hưởng đến sự nghiệp của nhà khoa học và hoài bão của người dân. Trong giới hàn lâm, nếu ai đó chỉ đơn thuần lâu lâu mới viết được một vài bài trên tạp chí khoa học thì sẽ bị xem là không đủ năng lực khoa học.

Để đáp ứng đòi hỏi về việc phải đưa ra bằng chứng rõ ràng về thành tích nghiên cứu của các nhà khoa học, nhiều quốc gia như Úc, Đan Mạch, Na Uy, Pháp, Tây Ban Nha, Anh, Thụy Điển, và nhiều nước khác nữa, đã đưa ra một số tiêu chí trong việc xếp hạng các tạp chí dựa trên tác động trích dẫn, cũng như phạm vi ảnh hưởng của bài viết trên tạp chí là ở tầm địa phương, quốc gia hay toàn thế giới. Gần đây Quỹ khoa học châu Âu đã tiếp tục đưa ra phiên bản kế tiếp của cái gọi là Chỉ số tham khảo châu Âu cho khối ngành nhân văn (European Reference Index for the Humanities).
Đo lường chất lượng là một việc làm có tính chủ quan; và việc những người thực hiện xếp hạng là các học giả có tầm cỡ, hoạt động trong các tổ chức tư nhân độc lập, cũng chẳng làm giảm tính chủ quan của nó một chút nào.   

Cách làm này có lợi cho các trường đại học ưu tú và các nhà nghiên cứu của họ, vốn là những người thống trị các loại ấn phẩm được có thứ hạng cao trong các bảng xếp hạng. Một số người khác tuyên bố rằng việc xếp hạng tạp chí có tác dụng giúp cho các ngành mới được nhiều người biết đến. Nhưng nhìn chung, tuyệt đại đa số các nhà khoa học chỉ biết cắn răng chịu đựng trước trào lưu xếp hạng tạp chí này mà thôi. 
Hơn thế, còn có vấn đề về cơ sở dữ liệu của các tổ chức xếp hạng, vì chúng chỉ chứa được một phần nhỏ hơn 1,3 triệu bài viết được xuất bản hằng năm. Những ngành chiếm ưu thế trong các bảng xếp hạng là các ngành Vật lý, Sinh học và Y học, do thói quen công bố của các ngành này. Điều này có nghĩa là các nguồn ấn phẩm hoặc các định dạng xuất bản quan trọng khác, chẳng hạn như sách hoặc các bản kỷ yếu hội thảo, các đóng góp vào những bộ tiêu chuẩn quốc tế, các báo cáo chính sách, các định dạng điện tử hoặc các ấn phẩm mã nguồn mở, vv, tất cả đều bị bỏ qua.

Bảng xếp hạng trường đại học thế giới của Thượng Hải, vốn đã trở thành tiêu chuẩn vàng được sử dụng bởi các chính phủ trên khắp thế giới, tính điểm thưởng cho những bài viết đăng trên hai tạp chí Nature và Science - nhưng họ làm như thế dựa trên cơ sở nào nhỉ? Những nghiên cứu phục vụ cho các mục tiêu của từng quốc gia thường liên quan đến các ngành nhân văn và khoa học xã hội cũng ít được công bố trên các tạp chí.
Có thể có rất nhiều lý do để dẫn đến một số lượng trích dẫn cao: lĩnh vực của bài báo có thể rất phổ biến, hoặc bài báo đề cập đến một vấn đề quan trọng, nhưng những điều này không có nghĩa là chất lượng của bài viết cao hơn những bài khác.

Thực tế này có thể thấy khi tôi gặp một nhóm phụ nữ từ các nước đang phát triển: Pakistan, Philippines, Nigeria... đang theo học để lấy bằng tiến sĩ và  đang theo đuổi các nghiên cứu về vấn đề chất lượng nước, kiểm soát lũ lụt, và năng suất cây trồng– những nghiên cứu ứng dụng có liên quan thực sự cho cộng đồng của họ; điều này có nghĩa là ngôn ngữ công bố của họ không phải là tiếng Anh vì các công bố của họ là nhắm vào đối tượng độc giả trong nước. Những ứng viên mà tôi phỏng vấn tại Nhật Bản vào năm 2008 cũng đã nêu lên các quan ngại tương tự, khi các tạp chí quốc tế bằng tiếng Anh được đánh giá cao hơn so với các tạp chí bằng tiếng Nhật.

Việc phụ thuộc quá mức vào sự đánh giá của đồng nghiệp như là một thước đo về chất lượng công trình nghiên cứu cũng là một vấn đề cần được nhìn nhận lại, bởi có rất nhiều lý do để dẫn đến một công trình có số lượng trích dẫn cao: lĩnh vực của bài báo có thể rất phổ biến, hoặc bài báo đề cập đến một vấn đề quan trọng, nhưng những điều này không có nghĩa là chất lượng của bài viết cao hơn những bài khác.
Đây chính là nguyên do của việc trường Đại học Alexandria của Ai Cập đã chiếm được một thứ hạng cao nhưng đầy tranh cãi trong kết quả xếp hạng năm 2010 của THE. Trong khi giới hàn lâm đang đặt dấu hỏi về xu hướng chuyển từ nghiên cứu do sự thôi thúc của sự tò mò đi tìm tri thức mới sang hướng nghiên cứu với mục đích ứng dụng, thì các nhà nghiên cứu vẫn phải có trách nhiệm đối với sự tài trợ từ nguồn ngân sách công.

Tuy nhiên, việc xếp hạng các tạp chí không hề quan tâm gì đến trách nhiệm này. Nói cách khác, bằng cách các chính sách của riêng mình, các bảng xếp hạng tạp chí chỉ đơn thuần đo lường những gì đã được các học giả viết ra và được người khác đọc, hơn là đo lường những tác động và lợi ích của nó đối với xã hội.

Đâu là bằng chứng cho thấy rằng các nghiên cứu đang góp phần giải quyết những thách thức lớn của xã hội hoặc đem lại lợi ích cho sinh viên? Chính phủ các nước đã áp dụng việc xếp hạng tạp chí bởi vì nó có vẻ như là một phương pháp khoa học cho việc phân bổ nguồn lực.

Tuy nhiên, với  phương pháp luận của việc xếp hạng tạp chí hiện nay, rõ ràng là sẽ để lại những hậu quả xấu về lâu dài. Đã có bằng chứng về những tác động tiêu cực liên quan đến việc chọn định hướng nghiên cứu và phương pháp quản lý nghiên cứu: các học giả được khuyến khích viết các bài để đăng trên tạp chí chứ không viết sách hoặc các báo cáo phản biện chính sách, làm cản trở những tìm tòi trong lãnh vực mới vì không an toàn, thiên vị một số ngành nghề trong việc phân bổ nguồn lực, và có những tác động đối với việc tuyển dụng và sa thải trong các trường.
Thay vì sử dụng các yếu tố định lượng để đo lường chất lượng, một Nhóm chuyên gia của EU đã đề nghị kết hợp các phương pháp tính và định lượng. Sở dĩ cần phải làm như vậy là vì các tạp chí, các biên tập viên, và những người phản biện của họ thường rất bảo thủ, họ luôn hành động như người gác cổng, và điều này có thể dẫn đến nguy cơ làm mất đi những đột phá về mặt tư tưởng vào một thời điểm mà xã hội trên toàn thế giới đang cần có ngày càng nhiều hơn, chứ không phải là ít đi những tiếng nói phản biện của các nhà khoa học.
Theo Tia sáng

Thứ Sáu, 23 tháng 9, 2011

Giá của tri thức khoa học và chuyện “chiêu hiền đãi sĩ”

0 nhận xét

Cuối tháng qua, Thành phố Hồ Chí Minh khởi công xây dựng Trung tâm Công nghệ Sinh học với vốn đầu tư 100 triệu USD. Đó là một phát triển đáng chú ý, vì thành phố quan tâm đến việc phát triển một ngành công nghệ được xem là “mũi nhọn” của thế kỉ 21. Trong điều kiện cạnh tranh khoa học, chúng ta thử nhìn sang nước láng giềng là Singapore để xem triển vọng của trung tâm Công nghệ Sinh học ra sao. Bài này tìm câu trả lời cho câu hỏi “giá của một tri thức mới là bao nhiêu”, và đối chiếu với tình hình ở Việt Nam, để thấy chúng ta đang đứng đâu trên thang bậc năng suất khoa học.

Tri thức khoa học
Một tri thức khoa học được “sản xuất” với bao nhiêu tiền? Câu hỏi này tuy đơn giản những khó có đáp số chính xác. Cái khó khăn chính là định nghĩa thế nào là tri thức, và chi phí để sản xuất ra một tri thức được tính toán ra sao, và nên bao gồm những khoản chi phí nào. Một cách đơn giản nhất, tri thức là thông tin mới. Trong khoa học, thông tin mới được “sản xuất” bằng một qui trình đặc thù, từ ý tưởng, đến giả thuyết, đến thí nghiệm, phân tích, và công bố thông tin (kết quả) dưới hình thức một bài báo khoa học. (Ở đây, tôi không bàn đến toán học, vì có ý kiến cho rằng toán học không phải là khoa học). Mỗi khâu trong qui trình đó đều tốn thời gian và tiền bạc. Ngoài ra, các khoản chi phí hỗ trợ cho nghiên cứu như chi phí duy trì phòng lab, phụ tá nghiên cứu, sinh phẩm, v.v… cũng phải tính vào chi phí “sản xuất một bài báo.
Theo cách hiểu vừa mô tả trên, có thể xem bài báo khoa học như là một đơn vị của tri thức. Thật vậy, trong nghiên cứu khoa học, bài báo khoa học được xem là “đơn vị tiền tệ”, và số lượng bài báo khoa học của một quốc gia được xem là một thước đo về lượng kiến thức khoa học của quốc gia đó. Cố nhiên, bài báo khoa học ở đây phải hiểu là các công trình nghiên cứu được công bố trên các tập san khoa học quốc tế có hệ thống bình duyệt (peer review) nghiêm chỉnh, chứ không phải những bài báo khoa học địa phương không qua bình duyệt. Do đó, một cách đơn giản nhất và có lẽ cũng thực tế nhất là xem bài báo khoa học được công bố trên một tập san khoa học quốc tế là một tri thức mới.
Một trong những môi trường lí tưởng để ước tính cái giá cho một tri thức mới là ngành công nghệ sinh học. Công nghệ sinh học là một lĩnh vực nghiên cứu với sự tương tác của nhiều bộ môn khoa học cơ bản và khoa học ứng dụng, như y học, sinh học phân tử và di truyền học, toán học, khoa học máy tính, v.v… Đây là một ngành khoa học mới, với tốc độ phát triển rất nhanh, và tiềm năng chuyển giao công nghệ nhanh hơn các ngành nghiên cứu cơ bản. Do đó, công nghệ sinh học có lẽ là ngành tiêu biểu để chúng ta có thể ước tính chi phí sản xuất tri thức mới.
Viện sinh học phân tử và tế bào (IMCB)
Viện sinh học phân tử và tế bào ( viết tắt là IMCB – Institute of Molecular and Cell Biology ) của Singapore là một trong những trung tâm nghiên cứu khoa học được thành lập vào năm 1987, trực thuộc trường Đại học Quốc gia Singapore (NUS). Viện được chính phủ Singapore ưu ái đầu tư và phát triển thành một trung tâm hàng đầu về công nghệ sinh học trên thế giới. Mười năm sau (1997) IMCB trở thành một viện độc lập, không còn trực thuộc NUS. Những dữ liệu của viện IMCB được công bố trên tập san Scientometrics (1) cung cấp cho chúng ta nhiều thông tin có ích để hiểu qua quá trình hình thành một viện nghiên cứu nghiêm chỉnh, đẳng cấp quốc tế như thế nào. Những số liệu của bài báo còn cho chúng ta biết cái giá của tri thức khoa học ở mức độ nào.
Thu hút nhân tài. Có thể nói không ngoa rằng, IMCB được hình thành và phát triển như ngày nay là nhờ vào một chiến lược vận động và thu hút nhân tài từ nước ngoài về Singapore. Chris Tan, viện trưởng IMCB, viết một cách chân tình rằng “trong giai đoạn đầu, tôi phải đi lạy lục, vay mượn, thậm chí ‘ăn trộm’ nhân tài từ các nơi trên thế giới” để gầy dựng nên trung tâm như ngày nay.
Năm 1991, sau 4 năm thành lập, ICMB có 114 nhà khoa học. Con số này tăng dần, tuy hơi có chậm, lên 179 vào năm 1996. Hiện nay, IMCB có 9 nhóm nghiên cứu trong viện, bao gồm các nhóm nghiên cứu di truyền, ung thư, bệnh truyền nhiễm, và nghiên cứu ứng dụng. Với vị trí như ngày nay, Viện đã có “khoa hiệu”, và không còn trong tình trạng đi “lạy lục” nhân tài như lúc đầu; ngược lại, có người từ nước ngoài về “đầu quân”. Ông Chris Tan cho biết năm 1997, khi IMCB có 2 vị trí trống, nhưng có đến hơn 100 ứng viên khắp thế giới gửi đơn xin việc.
Năng suất khoa học. Dữ liệu trình bày trong Bảng 1 dưới đây mô tả quá trình phát triển về nhân lực, ngân sách và năng suất khoa học của viện IMCB trong thời gian 1991 – 1996 ( tức trước khi viện trở thành độc lập ). Năm 1991 IMCB có ngân sách cho nghiên cứu chỉ 19,38 triệu Singapore Dollars (SD), và con số này tăng lên 36,37 triệu SD năm 1996, tức tăng 88%.
Bảng 1. Nhân lực, ngân sách, và năng suất khoa học IMCB
Năm
Số nhà nghiên cứu
Ngân sách nghiên cứu (triệu SD)
Số bài báo khoa học
Chi phí (1000 đôla) cho mỗi bài báo
1991
116
19.38
44
440.5
1992
147
21.76
46
473.0
1993
159
25.93
54
480.2
1994
165
28.81
59
488.3
1995
161
31.78
41
775.1
1996
179
36.37
61
596.2
Giá của một tri thức. Số bài báo khoa học năm 1991 là 44, và tăng gần như liên tục lên con số 61 bài năm 1996 (tăng 38% so với năm 1991). Tính trung bình, năm 1991, IMCB phải tiêu ra 440,500 SD để sản xuất một bài báo khoa học; con số này cho năm 1996 là 596,200 SD, cao hơn năm 1991 khoảng 35%.
Chất lượng nghiên cứu. Phân tích chất lượng nghiên cứu được trình bày trong Bảng 2. Nói chung, chất lượng nghiên cứu như phản ảnh qua chỉ số ảnh hưởng (impact factor – IF) của IMCB có phần tăng trong thời gian 1991-1996. Tuy nhiên, IF cũng chỉ dao động trong khoảng 5 đến 6, và điều này chứng tỏ chất lượng nghiên cứu của viện vẫn còn trung bình, chứ chưa thể xem là xuất sắc được. Tính trung bình, số lần trích dẫn cho mỗi bài báo là 25 (tính đến năm 1996). Con số này cho thấy nghiên cứu của IMCB có ảnh hưởng, nhưng tầm ảnh hưởng tương đối khiêm tốn, nếu tính thời gian hoạt động 10 năm (từ năm 1987). Có khoảng 8% bài báo chưa bao giờ được trích dẫn, và con số này thấp hơn 20% trong ngành công nghệ sinh học.
Bảng 2. Chất lượng nghiên cứu khoa học

Năm
Số bài báo khoa học
Impact factor trung bình
Số lần trích dẫn trung bình
Phần trăm bài báo chưa được trích dẫn
Số tiến sĩ đào tạo
1991
44
5.20
32.8
9.1
4
1992
46
5.98
8.4
4.3
8
1993
54
6.63
34.4
9.3
3
1994
59
5.09
25.5
13.6
14
1995
41
6.39
39.4
0.0
12
1996
61
6.20
25.1
8.2
3

Và trường hợp Việt Nam
Những thành tựu và năng suất khoa học của IMCB vừa trình bày trên đây cần phải đặt trong bối cảnh Việt Nam để chúng ta có cái nhìn về năng suất khoa học nước ta. Trong năm 1996 (tức 14 năm trước), tỉ số bài báo khoa học trên số nhân viên nghiên cứu của IMCB là 0.34. Nói cách khác, họ cần 3 nhân viên để sản xuất một bài báo khoa học.
Theo phân tích của Gs Phạm Duy Hiển, Viện khoa học Công nghệ Việt Nam (VKHCN) công bố được 98 bài báo khoa học trong năm 2007. Năm 2007, VKHCN có 2257 nhân viên (1389 công nhân viên trình độ cử nhân và thạc sĩ, 663 tiến sĩ, và 205 giáo sư / phó giáo sư). Như vậy, tỉ số bài báo khoa học trên số nhân viên là 0.043, hay phải cần đến 23 nhân viên để “sản xuất” một bài báo khoa học (Biểu đồ 1).
Biểu đồ 1. Số cán bộ khoa học cần thiết để "sản xuất" 1 bài báo khoa học của Viện nghiên cứu y khoa Garvan (Úc, 2008), Viện IMCB (Singapore, 1996) và Viện KHCN Việt Nam (2007)
Tính trung bình, năng suất khoa học của IMCB cao hơn VKHCN gần 8 lần.
Chẳng những kém về số lượng, mà chất lượng nghiên cứu của VKHCN cũng thấp hơn IMCB. Thật vậy, số lần trích dẫn trung bình cho mỗi bài báo của VKHCN là 4.3, trong khi đó chỉ số này của IMCB là 25, cao gấp 6 lần Việt Nam. Tuy nhiên, so sánh này có lẽ chưa công bằng, vì số bài báo khoa học của VKHCN bao gồm các ngành ngoài sinh học, cho nên so sánh số lần trích dẫn chưa hẳn là chính xác. Nhưng một sự khác biệt đến 7 lần thì khó có thể giải thích do ảnh hưởng của văn hóa ngành, mà rất có thể do chất lượng nghiên cứu của VKHCN còn thấp.
Tuy nhiên, công bằng mà nói IMCB vẫn chưa hẳn là một viện đẳng cấp quốc tế. Trong vòng 10 năm, các nhà khoa học IMCB chỉ viết được 3 bài tổng quan. Điều này cho thấy các nhà nghiên cứu của IMCB chưa hẳn đạt được đẳng cấp quốc tế, hay chưa được cộng đồng khoa học quốc tế thật sự công nhận. Cần nói thêm rằng, trung bình một nhà khoa học đẳng cấp quốc tế thường có khoảng 2-3% trong tổng số bài báo khoa học là bài tổng quan được mời viết, còn gọi là “invited review” (2).
Có lẽ kết quả phân tích thú vị nhất là mỗi bài báo khoa học của IMCB tốn 596,200 SD. Rất khó so sánh con số này với Việt Nam, vì chúng ta chưa biết ngân sách nghiên cứu khoa học của VKHCN là bao nhiêu. Tuy nhiên, có thể tạm so sánh với một viện nghiên cứu y sinh học Úc để biết đó là giá đắt hay không đắt. Viện nghiên cứu y khoa Garvan (Úc) năm 2009 công bố 195 bài báo khoa học (với impact factor trung bình là 8.7), và ngân sách cho nghiên cứu là 44.5 triệu đôla Úc. Như vậy, tính trung bình mỗi bài báo của Viện Garvan tốn khoảng 276,000 SD. Do đó, so với Viện Garvan, chi phí sản xuất một tri thức khoa học của IMCB đắt hơn khoảng 2.2 lần.
Tuy nhiên, so sánh về chi phí như trên có lẽ cũng chưa khách quan. Viện Garvan có lịch sử đến 60 năm, đã có cơ sở vật chất dồi dào và vững vàng. Trong khi đó, IMCB mới ra đời chưa chưa đầy 30 năm và có lẽ còn trang giai đoạn xây dựng cơ sở vật chất cho nghiên cứu.
Công nghệ sinh học là một khoa học “mũi nhọn” của thế kỉ 21. Các quốc gia có định hướng kinh tế tri thức đều chú trọng đến đầu tư cho công nghệ sinh học. Nhưng những so sánh trên cho thấy Nhà nước phải chuẩn bị và sẵn sàng đầu tư cho Trung tâm Công nghệ Sinh học ở TPHCM để có thể cạnh tranh với IMCB trong tương lai. Việt Nam chưa có một đội ngũ chuyên gia đẳng cấp quốc tế về công nghệ sinh học, và cũng khó có thể tự xây dựng một đội ngũ như Singapore trong vòng 20 năm nếu không có sự hỗ trợ đắc lực từ nước ngoài. Singapore sẵn sàng đi “lạy lục” và “ăn trộm” nhân tài trên thế giới, nhưng Việt Nam chúng ta và “cơ chế Việt Nam” có sẵn sàng làm như Singapore?
Ý nghĩa 

Không cần phải dài dòng lí giải, ai cũng có thể nhất trí rằng nước ta không (hay ít ra là chưa) có khả năng cạnh tranh khoa học với các cường quốc khoa học Âu Mĩ, Singapore, và một cường quốc đang trên đường hình thành như Trung Quốc. Nhưng khía cạnh mà chúng ta có thể cạnh tranh được là chất lượng nghiên cứu khoa học và chuyển giao kết quả để phục vụ cho phát triển kinh tế. Để nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học, chúng ta cần có những giáo sư và chuyên gia có kinh nghiệm tốt và uy tín cao trên trường quốc tế. Một trong những nguồn nhân lực khoa học đó là các nhà khoa học nước ngoài, nhất là đội ngũ các giáo sư đại học và nhà khoa học gốc Việt hiện đang làm việc tại các nước tiên tiến.
Chúng ta có thể điểm qua kinh nghiệm từ các nước trong vùng xem họ đã thu hút các chuyên gia từ nước ngoài như thế nào, và hi vọng các kinh nghiệm đó sẽ cung cấp cho Việt Nam một vài bài học có ích.
Từ những năm đầu thập niên 1990s, Hàn Quốc đã có một chính sách cụ thể để thu hút các nhà khoa học gốc Hàn Quốc ở các nước Âu Mĩ về nước giảng dạy và nghiên cứu. Ngày nay, khi nói đến sự thành công ngoạn mục của Hàn Quốc trong lĩnh vực khoa học và công nghệ, các giám đốc hãng Samsung, LG và Đại học Quốc gia Seoul đều nhất trí cho rằng chìa khóa thành công của họ là nhờ vào đội ngũ các nhà khoa học Hàn kiều đã góp một phần quan trọng đưa nền công nghệ điện tử và sinh học lên hàng các nước kĩ nghệ tiên tiến.
Cho đến nay, chính sách tuyển mộ các nhà khoa học Hàn kiều của Hàn Quốc vẫn còn tiếp tục và với nhiều hình thức khuyến khích càng ngày càng hấp dẫn hơn. Cũng như nhiều Việt kiều khác, giới khoa học Hàn kiều cũng tỏ ra ngần ngại và thậm chí miễn cưỡng quay về Hàn Quốc làm việc, vì họ phải hi sinh nhiều lợi ích tài chính mà họ đang hưởng ở nước ngoài. Để thu hút những người này, các viện nghiên cứu thuộc Nhà nước và các công ti như Samsung và LG xây hẳn một khu chung cư sang trọng với các tiện nghi hiện đại (kể cả bác sĩ nói tiếng Anh) và trả lương cho các nhà khoa học Hàn kiều cao gấp 3 lần so với lương của người bản xứ. Chỉ trong vòng 2 năm, Viện công nghệ tiên tiến Hàn Quốc (KAIST) tuyển dụng 27 giáo sư và nhà khoa học Hàn kiều, và họ được hưởng mức lương lên đến 100.000 USD / năm. Năm 2002, Bộ giáo dục Hàn Quốc, qua chương trình fellowship, tuyển mộ được hơn 100 giáo sư và nhà khoa học Hàn kiều (những người đã có trên 5 năm kinh nghiệm nghiên cứu hậu tiến sĩ) về giảng dạy và nghiên cứu khoa học về công nghệ thông tin và công nghệ sinh học. Trong số này, có đến 65 người được Đại học Quốc gia Seoul đón nhận về công tác.
Ở Trung Quốc, cũng như Hàn Quốc, các nhà lãnh đạo xem đội ngũ khoa học Hoa kiều là một lực lượng quan trọng, một chìa khóa để nâng cao chất lượng giáo dục đại học và nghiên cứu khoa học. Trong thời gian trên dưới 10 năm nay, Nhà nước Trung Quốc chi ra một ngân khoản lớn để thu hút các giáo sư và nhà khoa học Hoa kiều từ các nước Âu Mĩ về Trung Quốc làm việc. Họ có những đề cương với những qui định cụ thể về lĩnh vực nghiên cứu, giảng dạy và đi kèm theo các khoản lương bổng và ưu tiên quyền lợi cho các nhà khoa học ưu tú gốc Hoa.
Chẳng hạn như trong Đề cương 985 để nâng cao chất lượng giáo dục đại học cho một số trường đại học trọng điểm như Bắc Kinh, Thanh Hoa, Giao Thông, v.v… mà tho đó mỗi trường được tài trợ đến 1 tỉ Nhân dân tệ (tức khoảng 124 triệu USD) cho mục đích này. Để thực hiện việc này, các đại học thiết lập những chương trình nghiên cứu mũi nhọn và “chiêu dụ” các nhà khoa học Hoa kiều về làm việc. Đại học Bắc Kinh mỗi năm tiếp nhận khoảng 30 đến 40 các giáo sư từ nước ngoài, trong số này có một số về làm việc hẳn ở Trung Quốc và một số thì tiêu ra từ 3 đến 12 tháng. Những người về làm việc toàn thời gian được trả lương đến 40.000 USD / năm (lương chính thức của một giáo sư ở Trung Quốc chỉ khoảng 7.200 USD / năm). Nhà nước Trung Quốc thậm chí còn cấp hẳn một Giấy chứng nhận chuyên gia nước ngoài (Foreign Expert Certificate) cho các nhà khoa học này để được hưởng ưu tiên trong các dịch vụ của Nhà nước, kể cả đi lại, nhà ở, và trường học cho con cái.
Tính từ 1998 đến nay, Trung Quốc đã thu hút được 1108 nhà khoa học và 14 chuyên gia về nước công tác; trong số này, có những gương mặt nổi tiếng trên trường quốc tế. Chẳng hạn như năm 2004, Trung Quốc mời được Andrew Chi-chih Yao (giáo sư khoa học máy tính thuộc Đại học Princeton) về Trung Quốc thành lập một trung tâm nghiên cứu máy tính tại Đại học Thanh Hoa. Đại học Bắc Kinh mời được Tian Gang (một nhà toán học hàng đầu của Mĩ tại Viện công nghệ Massachusetts – MIT) về nước để thiết lập một trung tâm nghiên cứu toán học. Kể từ khi thu hút Hoa kiều về giảng dạy và nghiên cứu, nhiều đại học hàng đầu ở Trung Quốc càng ngày càng nâng thời lượng giảng dạy bằng tiếng Anh, và dựa vào hệ thống tín chỉ của Mĩ, đặc biệt là số lượng ấn phẩm khoa học trên các tập san quốc tế, để đề bạt các chức danh giáo sư (chứ không còn dựa vào thâm niên như trước đây). Một số trường thậm chí còn có qui định rằng nếu một giảng viên mà sau 6 năm vẫn chưa đạt tiêu chuẩn phó giáo sư thì sẽ được “mời” nghỉ việc.
Hồng Kông, trước khi được trả về cho Trung Quốc, có một lịch sử lâu dài về việc tuyển dụng các giáo sư và nhà khoa học nước ngoài. Thật ra, phần lớn (trên 90%) các giáo sư đại học Hồng Kông hoặc là người nước ngoài, hoặc là Hoa Kiều, hoặc là người Hồng Kông được đào tạo từ các đại học Âu Mĩ. Trước đây, các trường đại học Hồng Kông có chính sách khá rộng rãi và thông thoáng cho các giáo sư nước ngoài (như trả lương tương đương với nước ngoài, tạo điều kiện cư trú ổn định như cấp nhà hay cho thuê nhà với giá thấp, cấp vé máy bay đi và về thăm nhà mỗi năm 2 lần, v.v…). Sau khi Hồng Kông được trả về cho Trung Quốc, do chính sách mới, một số lớn các giáo sư này bỏ Hồng Kông và các trường đại học Hồng Kông trải qua một thời gian suy giảm năng suất khoa học thấy rõ. Nhận thức được vấn đề, chính phủ mới lại mời các giáo sư quay lại làm việc! Năm 2006, chính phủ Hồng Kông vừa triển khai một chương trình thu hút nhân tài Hoa kiều từ nước ngoài. Họ dự tính sẽ thu hút khoảng 1000 đến 2000 nhà khoa học và giáo sư trong vòng hai năm. Họ còn dành ưu tiên đặc biệt cho các nhà khoa học được bổ nhiệm là quyền được đem theo người thân gia đình định cư tại Hồng Kông.
Ở Đài Loan, Nhà nước nhận thức rõ yếu tố thành công của kĩ nghệ điện tử Đài Loan trong hai thập niên qua là nhờ vào lực lượng Hoa kiều ở Mĩ, nên họ có hẳn một chương trình dài hạn và dành hẳn một ngân quĩ quốc gia cho các giáo sư thỉnh giảng và nhà khoa học ưu tú từ nước ngoài vào làm việc tại các trung tâm nghiên cứu và đại học hàng đầu ở Đài Loan.
Ở Thái Lan, tôi được biết một số đại học hàng đầu thiết lập hẳn những “làng giáo sư”, mà trong đó cư dân chỉ là những giáo sư Thái Lan và giáo sư nước ngoài cùng gia đình của họ cư ngụ trong các villa hoặc biệt thự, với hệ thống điện thoại và internet miễn phí. Giáo sư cấp càng cao có nhà càng to và càng tiện nghi. Con của các giáo sư cũng được đi học miễn phí, thậm chí đưa đón cũng miễn phí. Mỗi khi một giáo sư công bố được một bài báo khoa học trên tập san quốc tế, họ được thưởng bằng tiền mặt và hiện vật. Giáo sư công bố được nhiều bài được nâng cấp lên ở nhà kiểu biệt thự; ngược lại, nếu năng suất khoa học kém sẽ bị … xuống cấp. Có lẽ một chính sách như thế đã góp phần đưa Thái Lan thành một trong những nước có thành tựu khoa học đứng vào hàng số 2 ở Đông Nam Á (chỉ sau Singapore).
Tôi nghĩ một hình thức “làng khoa bảng” như Thái Lan và Hàn Quốc cũng rất cần được tham khảo trong môi trường Việt Nam để thu hút các chuyên gia trong và ngoài nước góp phần nâng cao vị thế khoa học của nước ta trên trường quốc tế.

Tham khảo:
1. Chu Keong Lee. A scientometric study of the research performance of the Institute of Molecular and Cell Biology in Singapore. Scientometrics 2003; 56:95-110.
2. Woodward AM, Hensman S. Citations to review serial. J Documentation 1976; 32:2903.

GS TS Nguyễn Văn Tuấn

Lưu trữ Blog

HỌC LIỆU ĐIỆN TỬ
LIÊN KẾT
TAG CLOUD
A http://sinhhoc.blogspot.com/ (15) Ảnh độc đáo (4) Bài báo khoa học (12) Bài báo quốc tế (7) Bài giảng-Giáo trình (81) Bản tin CNSH (6) Biology books (1) Blog sinh học (4) Các cây hoa màu khác (3) Các nhà khoa học (3) Campbell (1) Câu chuyện khoa học (1) Cây lúa (11) Cây ngô (26) Chân dung nhà khoa học (4) Công nghệ lên men (1) Công nghệ mới (6) Công nghệ sinh học (64) Công nghệ thực phẩm (5) Công trình khoa học (14) Di truyền phân tử (3) DNA tái tổ hợp (1) Dự án (1) Đăng báo quốc tế (2) Đề tài (2) Đọc và suy ngẫm (3) Động vật học (29) Ebook Công nghệ sinh học (24) Ebook công nghệ thực phẩm (1) Ebook sinh học (85) Ebook thực vật (11) Ebook Y - Dược (3) English learn (1) Giáo dục và Khoa học (11) Góc nhìn cuộc sống (7) Góc tâm hồn (7) Hiện tượng sinh học (16) Hóa sinh (4) hướng dẫn sử dụng phần mềm (2) Khoa học và ứng dụng (3) kinh nghiệm đăng báo quốc tế (1) kỹ thuật SSR (1) Luận văn - Luận án (6) Luyện thi B1 B2 (3) luyện thi đại học (1) Nghành CNSH làm gì (1) Nghiên cứu khoa học (2) Nông nghiệp (4) Olympic Sinh học (1) PCR và các kỹ thuật liên quan (3) Phần mềm dạy học (2) Phần mềm sinh học (17) Sách công nghệ thực phẩm (3) Sách sinh học (14) Sách sinh y (1) Sách Y khoa (3) Sinh học 12 (1) sinh học đại cương (1) Sinh học phân tử (2) Sinh học phổ thông (5) Sinh học ứng dụng (3) Sinh vật học (8) SSR (1) Tế bào gốc (2) Thế giới tri thức (1) Thông báo (1) thông tin nông nghiệp (2) Thực vật học (37) Tin sinh và Thống kê (9) Tu dien sinh hoc (1) Tuyển dụng (6) Từ điển sinh học (3) Vi khuẩn (1) Vi sinh vật (27) Video clip (2) Video sinh học (5) Vui cười - Hài hước (12) Y học - Cuộc sống (126) Ý tưởng khoa học (10)