Danh sách Blog của Tôi

Bài viết được yêu thích

Thứ Tư, ngày 08 tháng 6 năm 2016

Khoa học cơ bản Việt Nam đang ở tốp đầu khu vực

0 nhận xét

Các ngành khoa học cơ bản của Việt Nam luôn duy trì ở tốp đầu khu vực ASEAN và có thứ hạng cao trên thế giới.
Ông Chu Ngọc Anh, Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ (KH&CN) thông tin khi trả lời câu hỏi của VietNamNet về vị trí của khoa học cơ bản Việt Nam tại họp báo giới thiệu Chương trình "Gặp gỡ Việt Nam" năm 2016, sáng 3/6.
Theo ông Chu Ngọc Anh, trong năm 2014, về Toán học, Việt Nam đứng thứ 50 thế giới và thứ 4 ASEAN. Tương tự, về Vật lý, chúng ta xếp thứ 60 thế giới và thứ 4 khu vực.

Với lĩnh vực Hóa học, Việt Nam xếp thứ 56 thế giới và xếp thứ 4 khu vực ASEAN. Với lĩnh vực khoa học sự sống trái đất, Việt Nam xếp thứ 57 thế giới và xếp thứ 5 trong khu vực ASEAN.
Bộ trưởng Bộ KH&CN Chu Ngọc Anh cho biết, khoa học cơ bản VN đang đứng ở tốp đầu khu vực. (Ảnh: Lê Văn)
Bộ trưởng KH&CN cũng dẫn lại sự kiện UNESCO công nhận Trung tâm Toán học và Vật lý dạng II của Việt Nam vào tháng 11 năm ngoái để khẳng định vị thế các ngành khoa học cơ bản của Việt Nam so với khu vực và thế giới.
"Trong khu vực ASEAN không có trung tâm nào về Toán và Vật lý được UNESCO công nhận như của Việt Nam", ông Anh cho hay. "Hai trung tâm được công nhận trước đó của Indonesia và Malaysia không thuộc lĩnh vực khoa học cơ bản".
Việc xếp hạng này dựa chủ yếu vào số lượng các công bố quốc tế, đặc biệt là các công bố trên hệ thống tạp chí ISI. Ông Chu Ngọc Anh cho biết, trong giai đoạn 2011-2015 vừa qua, số lượng công bố ISI của Việt Nam tăng từ 15-20% tùy từng năm. Tính tổng cả giai đoạn số lượng công bố của giai đoạn này tăng gấp 2 lần so với giai đoạn trước.
Có được điều này, theo ông Chu Ngọc Anh là sự nỗ lực, đam mê, nhiệt huyết của các nhà nghiên cứu khoa học cơ bản của Việt Nam cũng như sự quan tâm xuyên suốt của Đảng và Nhà nước đối với các ngành này, đặc biệt là với sự thành lập Quỹ Phát triển Khoa học Công nghệ Quốc gia (NAFOSTED) vào năm 2008.
Với kinh phí khoảng 300 tỉ mỗi năm, Quỹ NAFOSTED tài trợ cho hơn 300 nhiệm vụ khoa học mỗi năm, tập trung chủ yếu vào các lĩnh vực nghiên cứu cơ bản. Với mỗi đề tài được tài trợ, yêu cầu bắt buộc đối với chủ nhiệm đề tài là phải có 2 bài báo công bố ISI mới được nghiệm thu.
Nghiên cứu cơ bản là bắt buộc
Đánh giá về vai trò của ngành KH cơ bản đối với đời sống xã hội, ông Chu Ngọc Anh khẳng định, khoa học cơ bản đang làm thay đổi đáng kể cuộc sống hàng ngày. Từ cái điện thoại cho tới mạng Internet đều bắt nguồn từ nghiên cứu cơ bản.
"Nghiên cứu cơ bản là cơ sở để ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học vào cuộc sống", ông Anh nói.
Dẫn dụ một nghiên cứu điều chế tinh chất có tác dụng chống ung thư từ củ nghệ nhờ công nghệ nano phát xuất từ Chương trình "Gặp gỡ Việt Nam" GS Nguyễn Văn Hiệu cho biết, từ nghiên cứu cơ bản tới ứng dụng vào thực tiễn là một quá trình dài.
GS Nguyễn Văn Hiệu cho rằng, khoa học cơ bản là nền tảng cho các ứng dụng khoa học công nghệ. (Ảnh: Lê Văn)
Tuy nhiên, GS Nguyễn Văn Hiệu khẳng định, các nghiên cứu cơ bản chính là nền tảng, cơ sở cho các ứng dụng khoa học công nghệ trong thực tiễn. "Kinh phí cho nghiên cứu cơ bản chỉ khoảng 5%, 95% còn lại là nghiên cứu ứng dụng. Nhưng nghiên cứu cơ bản là bắt buộc. Tất cả đều phải bắt đầu từ", GS Hiệu khẳng định.
Khoa học cơ bản là một điểm nhất trong Chương trình "Gặp gỡ Việt Nam" năm 2016 với Hội nghị chủ chốt "Khoa học cơ bản và xã hội" hội tụ 5 nhà khoa học đoạt giải Nobel diễn ra vào đầu tháng 7 tới. Bên cạnh đó, Hội nghị cũng có sự tham gia của nhiều tập đoàn kinh tế lớn trên thế giới.
TS Nguyễn Thanh Sơn, Trường ĐH Quy Nhơn, thư ký của GS Trần Thanh Vân cho biết, sự xuất hiện của các tập đoàn lớn của thế giới tại Hội nghị "Khoa học cơ bản và xã hội" là một minh chứng cho tầm quan trọng của khoa học cơ bản đối với xã hội.
Ông Chu Ngọc Anh giải thích, ở các nước phát triển, có sự gặp gỡ rất rõ giữa khoa học cơ bản và giới công nghiệp. Tuy nhiên, ở các nước đang phát triển như Việt Nam, khoảng cách này vẫn còn khá xa. Những sự kiện như "Gặp gỡ Việt Nam" với sự tham gia của nhiều tập đoàn kinh tế chính là cơ hội để rút ngắn khoảng cách này.
Lê Văn - vietnamnet

Thứ Bảy, ngày 04 tháng 6 năm 2016

Cách Đọc Một Bài Báo Khoa Học - How to read a scientific paper

1 nhận xét
Bản dịch từ tài liệu đăng trên tạp chí Science đăng ngày 20/1/2016 của tác giả: Adam Ruben (người dịch: Huy Vũ)

Chẳng có điều gì khiến bạn cảm thấy mình ngu ngốc bằng việc đọc một bài báo trên một tập san khoa học cả.Tôi nhớ trải nghiệm đầu đời của mình với những bản thảo nhàm chán siêu dày đặc và dữ dội quá ngốc đến nỗi thỉnh thoảng những nhà khoa học bị bắt gặp đang gặm chúng cốt để giữ họ bình thường. Lúc đó tôi đang học đại học, đang lấy một lớp hội nghị chuyên đề (seminar course) bắt buộc chúng tôi phải đọc và thảo luận một bài báo mới mỗi tuần. Và đây là thứ đơn giản chẳng dành cho tôi.

Mỗi tuần tôi sẽ ngồi bên một bài báo, gặm từng câu một, và rồi khám phá ra rằng tôi chẳng học được lấy một thứ gì sấc. Tôi lên lớp và trang bị cho mình với chính xác một mẫu kiến thức duy nhất: tôi biết tôi đã đọc bài báo rồi. Giảng viên sẽ hỏi một câu; tôi sẽ chẳng biết cô ấy đang hỏi gì. Cô ấy hỏi một câu đơn giản hơn; vẫn vậy, tôi không có ý tưởng gì về nó. Nhưng tôi rõ ràng đã đọc bài báo chết tiệt ấy rồi!

Điều này làm tôi nhớ lại thời mẫu giáo, khi tôi cảm thấy tự hào mỗi khi đọc xong một cuốn sách của anh chị lớp trên. Nhưng nếu bạn hỏi tôi một câu đơn giản về nội dung cuốn sách - Wilbur là loại động vật gì? Làm thế nào mà Bách Khoa Thư Brown biết rằng Bugs Meany không thực sự đang xem những chú chim? Tôi không thể trả lời được.

Một vài tuần với hội nghị chuyên đề, tôi quyết định thế là quá đủ rồi. Tôi không muốn tiếp tục đọc một bài báo khác mà không hiểu gì về nó. Thế là tôi đem bài báo của tuần ấy lên thư viên. Đó không phải là một thư viện thông thường, mà là một thư viện sinh học nhỏ ít ai biết đến, một trong những cái lỗ trốn học thuật đầy bụi bặm chỉ được phổ biến bởi những dạng sống bất hạnh nhất, dĩ nhiên, đó là những con côn trùng và những anh chị sau tiến sỹ.

Tôi đặt bài báo trên một cái bàn trống lớn. Tôi dẹp hết tất cả những thứ dễ làm phân tâm. Để tránh quấy rầy từ đám bạn hay rủ rê nhậu nhẹt, tôi ngồi trong một phòng ngoài tối tăm không một dấu chân người. Để tránh quấy rầy từ những cuộc gọi điện thoại, tôi chắc chắn nó phải là đời 1999.
Điều quan trọng nhất, nếu tôi không hiểu một từ trong câu, tôi cấm mình đi tiếp sang câu khác cho đến khi tôi ra từ đó trong sách giáo khoa rồi đọc lại câu đó cho tới khi nó có nghĩa.

Tôi đặc biệt nhớ việc này xảy ra với từ "exogenous." Không biết làm sao mà tôi luôn lướt qua chữ này, cứ như nó chẳng quan trọng gì trong câu. Sai.
Tôi mất tới hơn 2 tiếng để đọc một bài báo ba trang. Nhưng lần này, tôi thực sự hiểu nó. Và tôi nghĩ, "Wow. Mình hiểu nó rồi. Mình thực sự hiểu nó rồi."Và tôi nghĩ, "Khỉ gió. Có phải mình sẽ phải làm tương tự thế này hoài?"


Nếu bạn đang ở điểm khởi đầu trong sự nghiệp khoa học của bạn, bạn có lẽ đang chậc vật với vấn đề tương tự. Có thể sẽ giúp bạn làm quen với 10 Giai Đoạn của việc Đọc một Bài Báo Khoa Học:

1. Lạc quan. Hãy tự nhủ rằng "Điều này không thể nào quá khó" với một nụ cười, giống như cách bạn nói với bản thân rằng, "Không có gì hư hại khi uống 8 ly cà phê một ngày" hay "Có cả khối những công việc biên chế." Sau này, bạn sẽ đọc từ vựng cả hàng thập kỷ. Và đó là tất những gì báo khoa học có, đúng không nào? Là các từ mà thôi nhỉ?

2. Sợ hãi. Đây là giai đoạn khi bạn nhận ra rằng, "Uh... mình không nghĩ mấy thứ này là từ vựng." Thế là bạn đọc chậm đi một chút. Đọc to từng âm tiết, phân tích từng thuật ngữ, tra các chữ viết tắt, và xem lại bài vài lần. Chúc mừng bạn: Thế là bạn đã đọc tiêu đề bài báo rồi đấy.

3. Tiếc nuối. Bạn bắt đầu nhận ra rằng bạn nên đầu tư thật nhiều thời gian cho việc này. Tại sao bạn lại cho rằng mình có thể luột chín một bài báo chỉ trong khoảng thời gian đi một chuyến xe buýt? Nếu chỉ khi bạn có nhiều thời gian hơn. Nếu chỉ khi bạn có một trong những cái nút buzz hay dùng trong sở làm những năm 1960, và bạn có thể chỉ cần bấm nó và nói, "Phoebe, hủy lịch trình tháng Một của tôi." Nếu chỉ có một phiên bản rút gọn của cùng bài báo, khoảng 250 từ hay ít hơn, in đậm ở đầu bài báo...

4. Đi tắt. Tại sao, cái này là gì? Một đoạn Abstract, thế là tất cả cho tôi? Mừng rằng những biên tập viên các tập san khoa học biết rằng không bài nào là hàm súc, nên họ yêu cầu các tác giả cung cấp, a la, "một phiên bản rất ngắn." Okay. Chúng ta hãy cùng làm điều này nhé.

5. Không ổn định tâm trí. Khỉ gió! Chẳng phải Abstract thường sẽ giải thích cái gì đó sao? Tại sao một câu trung bình dài 40 chữ? Tại sao có quá nhiều cụm từ viết tắt thế này? Tại sao tác giả dùng từ "đặc trưng" lên tới 5 lần?

6. Phân tâm. Điều gì nếu có một cái điện thoại thông minh cho những chú vịt? Làm sao mà điều đó thực hiện được? Họ dùng nó để làm gì? Và giai điệu Paul Simon đó là gì, cái dòng "Bạn có thể gọi tôi là AI," lẫn quẩn trong đầu bạn cả ngày? Cuộc sống của bạn sẽ đổi thay như thế nào nếu bạn có một cái máy làm bánh mỳ? Bạn sẽ cần phải mua men. Thế men có mắc không? Bạn có thể làm bánh mỳ vài ngày một lần, nhưng thế thì nó sẽ trở nên cũ rích mất. Nó không giống với bánh mỳ mua ở tiệm; nó đơn giản là không giống. Oh, đúng rồi! "Không muốn kết thúc một hoạt hình trong một nghĩa địa hoạt hình." Paul Simon vẫn còn sống hay không? Bạn nên coi thử trên Wikipedia. Thỉnh thoảng bạn nhầm ông ấy với Paul McCartney hay Paul Shaffer. Thật xấu hổ với David Bowie. Bạn có thể đặt cà phê trong một cái máy làm ẩm không?

7. Bạn nhận ra rằng 15 phút đã trôi qua và bạn đéo đọc câu tiếp theo. Đắng!

8. Quyết tâm. Ổn thôi. Chuyến này mình sẽ thực sự đọc. Thực sự sẽ làm. Vâng, yeah, và giờ đọc chính là điều bạn làm. Chúng ta hãy chỉ mấy đứa học sinh ấy vào vết mực khô trên trang giấy, và...

9. Sự giận dữ: LÀM THẾ ĐÉO NÀO MÀ BỘ NÃO NGƯỜI LẠI SẢN SINH RA MẤY CÁI CÂU QUÁI QUỈ THẾ NÀY?

10. Trầm ngâm thật sự về một nghề nào đó thuộc lĩnh vực khoa học xã hội.Có phải mấy bài học thuật viết về các chủ đề phi khoa học dễ hiểu hơn không? Phải không?

Bài báo khoa học là một thứ tài liệu kỳ lạ. Chúng ta miệt mài làm ra chúng hàng tháng hay thậm chí hàng năm. Chúng ta viết chúng bằng thứ tiếng mẹ đẻ (vernacular) cực kỳ chuyên biệt đến nỗi hầu hết các nhà khoa học khác đều không chia sẽ. Chúng ta để chúng trên những trang thương mại và bán với mức giá nực cười, chẳng hạn 34.95 USD, để người khác đọc. Chúng ta thế là đã chấp nhận tính không thể truy cập được của chúng đến nỗi chúng ta phải làm mấy cái "câu lạc bộ đọc báo" với hy vọng rằng bạn bè chúng ta hiểu chúng và tóm tắt chúng giúp chúng ta.

Bạn có thể tưởng tượng nếu các bài báo trên tạp chí dòng chính giống như những bài báo khoa học? Mường tượng một câu chuyện trang bìa của Time với 48 tác giả. Hay một mẫu tin trong The Economist đòi hỏi, sau khi mỗi đối tượng được miêu tả, một danh sách đặc trong ngoặc đơn của công ty đã sản xuất đối tượng và thành phố nơi công ty đó đặt trụ sở. Hay một bài xã luận trên People về Jimmy Kimmel chỉ có thể được xuất bản sau một tiến trình bình duyệt gay gắt bởi các chuyên gia của Jimmy Kimmel.

Bạn có biết cái mà bạn gọi một bài báo tạp chí đời hỏi sự xem xét học thuật kỹ lưỡng và một sự cam kết không phân tâm để hiểu ra điều mà bài báo đang muốn nhắn gởi? Bạn sẽ gọi nó là một bài báo viết thật tệ.

Vậy thì với những người mới bắt đầu tập đọc báo khoa học, xin chào mừng.Chúc may mắn. Và chúng tôi phải xin lỗi. Chúng tôi đang cố gắng viết thật súc tích, nhưng thỉnh thoảng chuyên ngành hẹp (subdiscipline) của chúng tôi cực kỳ chuyên biệt đến nỗi chúng tôi cần tới cả triệu từ viết tắt. Và thỉnh thoảng chúng tôi cố làm ra vẻ cái giọng của những nhà khoa học giỏi bằng cách sao chép cái giọng của từng bài báo chúng tôi đã đọc. Và thỉnh thoảng chúng tôi đơn giản là viết văn quá dỏm.

Quackberry. Đó là từ bạn dùng để gọi cái điện thoại thông minh dành cho những chú vịt.

Adam Ruben, PhD, là một nhà khoa học và là tác giả cuốn sách Surviving Your Stupid, Stupid Decision to Go to Grad School.

Người dịch: Huy Vũ

                                                                        Blog Sinh học là nơi chia sẻ sách báo, luận văn bài giảng và cập nhật thông tin về khoa học,  y tế, động thực vật, di truyền, và nhiều hơn nữa...

Cách đọc bài báo khoa học

0 nhận xét
Tài liệu này có thể nhiều người đã biết, nhân ngày cuối tuần mình dịch lại sang tiếng Việt.

Tóm tắt một số điểm chính “Cách đọc bài báo khoa học hiệu quả”:
Chuẩn bị:
  • Một nơi yên tĩnh
  • Bút chì, bài báo hoặc bản copy của bài báo
Quyết định xem sẽ đọc cái gì:
  • Đọc tiêu đề, phần tóm lược (abstract) của bài báo.
  • Quyết định nên đọc, lưu trữ, hay bỏ qua
Đọc để hiểu ý chính (Read for breadth)
  • Họ làm vấn đề gì?
  • Đọc lướt phần Introduction, các tiêu đề, bảng biểu, hình vẽ, các định nghĩa, kết luận (conclusion) và phần tài liệu trích dẫn.
  • Xem xét tính tin cậy của bài báo (có thể thông qua tiểu sử của tác giả, bài báo đăng ở tạp chí, hội nghị nào)
  • Bài báo hữu ích như thế nào?
  • Quyết định xem có tiếp tục đọc chi tiết hay không.
 Đọc chi tiết (Read in Depth)
  • Họ đã thực hiện nghiên cứu như thế nào?
  • Thử thách thức (challenge) các lập luận trong bài báo.
  • Xem xét lại các giả thuyết (assumptions)
  • Kiểm tra các phương pháp.
  • Kiểm tra lại các thống kê
  • Kiểm tra lại các lập luận và kết luận.
  • Đặt câu hỏi: liệu mình có thể áp dụng cách tiếp cận trong bài báo vào đề tài nghiên cứu của mình.
Ghi chép:
  • Vừa đọc vừa ghi chép
  • Đánh dấu những điểm chính
  • Ghi chú những thuật ngữ và định nghĩa mới
  • Tóm tắt các bảng biểu và đồ thị
  • Viết bản tóm tắt
Nguồn: sưu tầm

Thứ Sáu, ngày 27 tháng 5 năm 2016

Thận hoạt động như thế nào - Video Sinh học

0 nhận xét
video


Cấu Tạo Và Chức Năng Của Thận

Thận là một tạng (cơ quan) trong hệ tiết niệu, có hai quả hình hạt đậu nằm trong khoang bụng sau phúc mạc đối xứng nhau qua cột sống, ngang đốt ngực T11 đến đốt thắt lưng L3. Thận phải nằm thấp hơn thận trái một chút (Có ý kiến cho rằng thận phải bị đè bởi gan to nhất trong các tạng nên mới như vậy). Mặt trước thận nhẵn bóng còn mặt sau thì sần sùi.
Nguồn: slidesharecdn.com
Các quả thận nhận máu từ cặp động mạch thận bắt nguồn từ tĩnh mạch chủ bụng, và chảy vào các cặp tĩnh mạch thận. Mỗi quả thận tiết nước tiểu vào niệu quản, là một cấu trúc cặp đôi dẫn nước tiểu vào bàng quang. Phía trên mỗi quả thận là tuyến nội tiết thượng thận.
1. Cấu tạo của thận
Mỗi quả thận dài khoảng 10 – 12.5 cm, rộng 5–6 cm, dày 3–4 cm và nặng khoảng 170g, có một bờ lồi, một bờ lõm và được bọc bới vở xơ. Ở bờ lõm có một chỗ lõm sâu gọi là rốn thận là nơi mạch máu và các tổ chức thận liên quan. Thận gồm 2 vùng: vùng ngoài cùng là phần vỏ (có màu hồng tới đỏ hay đỏ sẫm) dày khoảng 7 – 10mm, vùng kế tiếp là phần tủy là một khoang rỗng được gọi là bể thận hay tháp thận.cau-tao-va-chuc-nang-cua-than-nguoi
Hai quả thận  nằm sát phía lưng của thành khoang bụng, hai bên cột sống ( ngang đốt ngực T11 đến đốt thắt lưng L3). Thận phải nhỏ hơn và nằm thấp hơn thận trái khoảng 1 đốt sống. Thận được giữ chắc trong bụng nhờ hệ thống cân vùng thận (lớp cân gồm 2 lá bọc thận). Rốn thận là chính giữa bờ cong phía trong, nơi đó có mạch máu đến và đi ra khỏi thận, có ống niệu, có dây thần kinh. Bổ dọc một quả thận ta thấy bên trong gồm hai phần: phần chính giữa là bể thận có chứa mô mỡ, các mạch máu và dây thần kinh, phần xung quanh đặc gồm hai lớp, bên ngoài là lớp vỏ đỏ xẫm do có nhiều mao mạch và các cấu trúc dạng hạt là cầu thận. Lớp tuỷ ở trong màu nhạt là lớp hình tháp của thận

Mỗi quả thận của người được cấu tạo từ hơn một triệu đơn vị thận. Đơn vị thận vừa là đơn vị cấu tạo vừa là đơn vị chức năng.
Mỗi đơn vị thận gồm có cầu thận và ống thận.
* Cầu thận gồm quản cầu Malpighi và nang Bowman là một túi bọc quản cầu, thành nang có nhiều lỗ nhỏ. Quản cầu Malpighi gồm khoảng 50 mao mạch xếp song song thành khối hình cầu. Ngăn cách giữa nang và mao mạch là một màng lọc mỏng để lọc các chất từ mao mạch sang nang.
* Ống thận gồm ống lượn gần, quai Henle và ống lượn xa.
* Dịch lọc từ nang đổ vào ống lượn gần (uốn khúc), tiếp đến là quai Henle là một ống hình chữ U. Ở đầu lên của quai Henle tiếp với ống lượn xa cũng là một ống uốn khúc. Từ ống lượn xa dịch lọc đổ vào ống góp. Ống góp không thuộc đơn vị thận, nó nhận dịch lọc từ một số đơn vị thận để đổ vào bể thận.
cau tao cau than
Cấu tạo vi thể và siêu vi thể
Quan sát trên kính lúp có thể thấy rõ ở phần vỏ thận gồm các chấm đỏ, nhỏ li ti, đường kính khoảng 0.2mm. Đó là các cầu thận, còn được gọi là tiểu cầu Manpighi. Cầu thận, nang cầu thận và ống thận tạo thành một đơn vị chức năng. Nang cầu thận hay còn gọi là nang Bowman, do nhà khoa học Bowman phát hiện và mô tả nó, thực chất nó là một cái túi gồm 2 lớp mà lớp trong tiếp giáp với búi mao mạch (chính là cầu thận). Nhu mô thận: Gồm hai phần có màu sắc khác nhau: Vùng vỏ màu đỏ nhạt ở phía ngoài và vùng tuỷ màu đỏ thẫm ở phía trong.
Nephron
Vùng vỏ: Dày khoảng 4mm bao gồm các hạt thận (hay tiểu cầu thận, hay tiểu cầu Malpighi); phần vỏ nằm giữa các tháp thận, gọi là cột thận.
Vùng tuỷ: Được cấu tạo bởi các tháp thận (tháp Malpighi). Mỗi tháp thận là một khối hình nón có đáy hướng về vỏ thận đỉnh hướng về bể thận. Đỉnh của tháp thận gọi là gai thận (nhú thận). Tháp thận thường nhiều hơn nhú thận. Mỗi thận có khoảng 12 gai thận.Trên mặt mỗi gai thận có nhiều lỗ nhỏ (từ 15-20 lỗ), đó là lỗ của các ống góp mở vào đài thận.
Ống thận thực chất cũng gồm 3 đoạn khác biệt nhau là ống lượn gần, quai Henle và ống lượn xa. Ống lượn gần và ống lượn xa nằm trong phần vỏ, quai Henle nằm trong phần tủy. Trên phần tủy là các tháp thận (hình tháp) được tạo bởi một phần các ống thận. Mỗi quả thận có thể gồm hàng chục tháp thận (hay còn gọi là tháp Manpighi).
2. Chức năng của thận
Thận có nhiều chức năng. Chúng là một bộ phận quan trọng của hệ tiết niệu và cũng có chức năng hằng định nội môi như điều chỉnh các chất điện phân, duy trì sự ổn định axit-bazơ, và điều chỉnh huyết áp.
than-nguoi-co-chuc-nang-gi
Các quả thận đóng vai trò là bộ lọc máu tự nhiên trong cơ thể, và các chất thải theo niệu quản được dẫn đến bàng quang để thải ra ngoài. Trong việc tạo ra nước tiểu, các quả thận bài tiết các chất thải như urê, acid uric và amoniac; thận cũng có nhiệm vụ tái hấp thụ nước, glucose, và các axít amin. Thận cũng sản xuất các hóc môn như calcitriol, renin, và erythropoietin.

Quá trình lọc máu và bài tiết nước tiểu ở thận
a. Sự lọc máu
Cứ  mỗi phút có 1.300 lít máu qua thận, lớn gấp 20 lần so với các cơ quan khác. Người trưởng thành sau 1 giờ có thể lọc 60 lít máu và có 7,5lít dịch lọc được tạo ra. Như vậy lượng 5 lít máu trong con người sau 24 giờ có thể chảy qua thận 288 lần hay cứ 5 phút thì  đi qua 1 lần. Vì thế thận cần cung cấp oxy rất lớn, trọng lượng của thận chỉ chiếm 0,5% trọng lượng cơ thể mà nó nhận tới 9% tổng lượng oxy cung cấp cho cơ thể. Trong thực tế, quản cầu chỉ lọc huyết tương đến thận và hệ số lọc chỉ đạt khoảng 20% nghĩa là cứ 100ml huyết tương đến thận chỉ có 20ml được lọc. Trong một ngày đêm có khoảng 180 lít dịch lọc được tạo thành qua cầu thận gọi là nước tiểu loạt đầu.
qua-trinh-loc-mau-o-thanb. Quá trình bài tiết nước tiểu ở thận
Nước tiểu được tạo thành ở các đơn vị chức năng của thận (nephron). Đầu tiên là quá trình lọc máu qua màng lọc ở vách mao mạch ở cầu thận để tạo thành nước tiểu đầu ở nang cầu thận. Mỗi phút, động mạch thận đưa 1 lít máu vào thận, 40% số đó là hồng cầu không qua được lỗ lọc. Như vậy, chỉ 60% số đó tức 600ml huyết tương vào cầu thận mỗi phút, nhưng khi đó ở động mạch đi chỉ còn 480ml, nghĩa là có 120ml lọt qua lỗ lọc sang nang cầu thận tạo thành nước tiểu đầu. Làm phép nhân đơn giản thì mỗi ngày sẽ có khoảng 172 lít nước tiểu đầu được hình thành.
kidneyc. Sự tái hấp thu của các ống thận 
Mặc dù  mỗi  ngày có khoảng 180 lít nước tiểu loạt đầu được tạo ra trong các xoang Bowman nhưng chỉ có 1 – 2 lít nước tiểu thực sự được hình thành, và thành phần của nước tiểu hoàn toàn khác với dịch lọc. Đó là do khi chảy qua ống lượn gần, quai Henle, ống lượn xa đã xảy ra sự tái hấp thu H2O và các chất cần thiết cho cơ thể.
thành phần của nước tiểu
*  Tại ống lượn gần:
+ Tái hấp thu glucose:  Glucose  được hấp thu hoàn toàn khi hàm lượng  đường trong máu ở mức bình thường (0,8 – 1,2g/lit máu) theo cơ chế vận tải tích cực. Glucose được vận chuyển qua phía đối diện của tế bào biểu mô của thành ống để đổ vào máu. Trường hợp khi trong máu hàm lượng glucose lên đến 1,8g/l thì quá trình tái hấp thu xảy ra không hoàn toàn. Đặc biệt khi đường huyết tăng cao hơn ngưỡng 1,8g/l (có thể vì do thiếu hormon insulin), khả năng tái hấp thu glucose không thể xảy ra,  đường huyết chuyển vào nước tiểu gây bệnh đái đường (diabet).
su-loc-o-than
+ Tái hấp thu protein, acid amin và các chất khác:
 – Protein  được tái hấp thu  ở ngay  đoạn  đầu  ống lượn gần bằng phương thức  ẩm bào.
Trong 24 giờ có khoảng 30 g protein được tái hấp thu.
 – Acid amin mỗi  loại được gắn với chất mang đặc hiệu trên màng, khi tách khỏi chất mang chúng  được khuếch tán vào dịch  ngoại bào mà vào máu. Các chất khác như vitamin, aceto – acetat… cũng được tái hấp thu ở đây.
+ Tái hấp thu Na+ nhờ cơ chế vận tải tích cực: 90% Na+ được tái hấp thu ở ống lượn gần. Na+ gắn vào vật tải được bơm vào dịch  ngoại bào để vào máu, đồng thời Na+ mang theo một lượng Cl- tương đương.
 +  K+ cũng được tái hấp thu hoàn toàn ở ống lượn gần bằng phương thức tích cực giống như Na+.
cau-tao-va-chuc-nang-cua-than-nguoi-nhu-the-nao
+ Tái hấp thu H2O: 85 – 90%. Có ba nguyên nhân tạo điều kiện cho quá trình tái hấp thu H2O ở đây:
– Các protein có kích thước lớn không qua được màng lọc bị giữ lại trong máu làm tăng áp suất thẩm thấu keo loại, kéo H2O vào máu.
– Do tái hấp thu Na+ tích cực đã làm tăng áp suất thẩm thấu, gây hút H2O vào máu.
– Tế bào biểu mô của ống lượn gần có tính thấm H2O cao hơn các đoạn khác.
* Tại quai Henle
Các tế bào biểu bì ở nhánh xuống của quai Henle chỉ cho H2O thấm qua, còn Na+ thì bị giữ lại hoàn toàn, nên làm tăng nồng độ Na+ trong dịch lọc khi qua đáy chữ U sang nhánh lên của quai. Trong lúc đó ở nhánh lên Na+ lại được thấm ra còn không cho H2O thấm ra. Người ta gọi đó là hiện tượng nhân nồng độ ngược dòng. Hơn nữa, quai Henle cùng với mạch thẳng và ống góp nằm song song với nhau, một phần nằm ở lớp vỏ, một phần nằm ở lớp tuỷ. Áp suất thẩm thấu của dịch  ngoại bào càng đến gần lớp tuỷ càng cao. Ở lớp tuỷ áp suất thẩm thấu của dịch  ngoại bào cao gấp 4 lần so với dịch ngoại bào của lớp vỏ. Điều đó càng tạo điều kiện cho việc tại hấp thu H2O ở nhánh xuống và Na+ ở nhánh lên.
cơ chế lọc ở thận
* Tại ống lượn xa
+ Ở phần đầu của ống lượn xa: Quá trình tái hấp thu giống ở nhánh lên của quai Henle. Ở đây Cl- được bơm ra dịch  ngoại bào và do đó kéo theo các ion khác như Na+, K+, Ca++, Mg++…Các ion được tái hấp thu nhiều làm cho dịch lọc ở phần đầu của ống lượn xa bị loãng hơn. Có người gọi đây là đoạn pha loãng. Nhờ sự pha loãng này đã tạo điều kiện cho quá trình tái hấp thu H2O ở đoạn sau.
cau-tao-cua-ong-than
+ Ở phần sau của ống lượn xa: 
– Tái hấp thu H2O: Do dịch lọc bị loãng nên áp suất thẩm thấu của dịch lọc thấp hơn nhiều so với áp suất thẩm thấu của dịch  ngoại bào, kết quả là H2O dễ dàng đi ra dịch ngoại bào mà vào máu.
Tại  đây quá trình tái hấp thu H2O còn  được thúc  đẩy nhờ tác dụng của hormon chống bài niệu (ADH) do thuỳ sau tuyến yên tiết ra. Người ta cho rằng ADH đã gây hoạt hoá enzyme adenylatecyclase  để enzyme này kích thích sự biến  đổi ATP thành AMP vòng. AMP vòng lại kích thích enzyme protein – kinase. Enzyme này có tác dụng làm tăng tính thấm đối với H2O của tế bào. Tác dụng của hormon này lên quá trình tái hấp thu H2O còn được nghiên cứu tiếp tục.
vi-tri-cua-Nephron
 – Tái hấp thu Na+ và Cl-: Nhờ tác động của hormon aldosteron của phần vỏ tuyến thượng thận mà ion Na+  được tái hấp thu theo cơ chế tích cực. Aldosteron xuyên qua màng tế bào tới màng nhân và gắn vào một protein thụ cảm  ở màng nhân tạo phức aldosteron – protein. Phức hợp này vào nhân kích thích ADN tăng tổng hợp ARN thông tin, kết quả làm tăng tổng hợp loại protein mang để vận chuyển Na+ trong khi (bơm Na) hoạt động (đây là cơ chế hoạt hoá gen). Còn Cl- được hấp thu theo Na+ như ở ống lượn gần.
+ Từ tế bào thành biểu mô của ống lượn xa một số chất như K+, NH3, H+ lại được chuyển vào góp nằm ở tuỷ thận cho ure đi qua còn ở phần vỏ không cho ure đi qua).
cau-tao-va-chuc-nang-cua-than-nhu-the-nao
 – Ống góp còn tái hấp thu thêm Na+, K+, Ca++. dịch lọc. Một lượng NH3 từ huyết tương tới tế bào biểu mô của thành ống lượn xa để bài tiết. Vào dịch lọc NH3 kết hợp với H+ tạo ra NH4 để thải ra theo nước tiểu, nhờ vậy đã điều chỉnh được độ pH của dịch lọc.
Trước khi chuyển sang ống góp thành phần dịch lọc đã gần giống nước tiểu.
* Tại ống góp
 – Ở ống góp quá trình tái hấp thu H2O và ure là chủ yếu. Giống như ở ống lượn xa, ADH có tác dụng làm tăng tính thấm của các tế bào biểu mô đối với H2O.
 – Nhờ tái hấp thu H2O  ở  ống góp làm nồng  độ ure trong dịch tăng cao nên ure khuếch tán vào dịch kẽ dễ dàng.
than-va-bang-quan
 Sau khi qua ống góp nước tiểu được cô đặc sẽ đổ vào bể thận, di chuyển qua niệu quản để xuống bàng quang, ở đó nước tiểu được giữ lại cho đến khi đủ lượng gây kích thích mà có phản xạ tiểu tiện.
Quá trình hấp thụ lại đã biến 172 lít nước tiểu đầu thành 1.5 lít nước tiểu chính thức mỗi ngày. Các chất độc hại còn sót lại trong 480ml huyết tương qua cầu thận vào động mạch đi sẽ được lọc tiếp ở ống thận nhờ quá trình bài tiết tiếp.
Nước tiểu chính thức sẽ đổ vào bể thận, xuống ống dẫn nước tiểu, tích trữ ở bóng đái (bàng quang) rồi được thải ra ngoài qua ống đái.
Nguồn: Khoe mới vui/TEvn
                                                                        Blog Sinh học là nơi chia sẻ sách báo, luận văn bài giảng và cập nhật thông tin về khoa học,  y tế, động thực vật, di truyền, và nhiều hơn nữa...

Vi khuẩn kháng tất cả các loại thuốc được phát hiện tại Mỹ

0 nhận xét
Mức độ nhẹ hơn trước đây chỉ là các vi khuẩn đa kháng thuốc và kháng thuốc rộng.

Một phụ nữ ở tiểu bang Pennsylvania đã trở thành người Mỹ đầu tiên nhận xét nghiệm dương tính với một loại vi khuẩn có khả năng kháng tất cả các loại kháng sinh, ngay cả những dòng thuốc dùng trong trường hợp cuối cùng mà nhân loại sử hữu.
Trường hợp đầu tiên được ghi nhận này đã "báo hiệu sự xuất hiện thực sự của vi khuẩn kháng tất cả các loại thuốc", theo các chuyên gia y tế. Mức độ nhẹ hơn trước đây chỉ là các vi khuẩn đa kháng thuốc và kháng thuốc rộng. Đó có thể đồng nghĩa với "đoạn cuối con đường" cho thời đại thuốc kháng sinh.
 Vi khuẩn kháng tất cả các loại thuốc được phát hiện tại Mỹ.
Báo cáo của trường hợp được đăng tải trên tạp chí khoa học Antimicrobial Agents and Chemotherapy. Các nhà nghiên cứu đến từ Viện nghiên cứu Walter Reed Army, cơ sở khoa học y sinh lớn nhất của Bộ Quốc phòng Mỹ, chỉ ra vi khuẩn đã có mặt trong nước tiểu của một phụ nữ 49 tuổi.
Trước đó vào tháng 4, cô tới phòng khám ở Pennsylvania với các triệu chứng giống như nhiễm trùng đường tiết niệu. Mẫu nước tiểu của cô được gửi đến Trung tâm Y tế Quân đội Hoa Kỳ để thử nghiệm. Kết quả xét nghiệm dương tính với mcr-1, gen đang khiến vi khuẩn trở nên kháng tất cả các loại thuốc kháng sinh, bao gồm cả loại thuốc mạnh nhất cuối cùng, colistin.
Colistin là loại kháng sinh để chống lại các vi khuẩn có khả năng kháng kháng sinh mạnh nhất. Cho tới hiện nay, nó cẫn là công cụ mạnh nhất chúng ta sở hữu để điều trị vi khuẩn đa kháng thuốc. Tuy nhiên, các nghiên cứu mới ngày càng chỉ ra bằng chứng cho thấy rồi colistin cũng mất đi hiệu quả của nó.
Các nhà khoa học lo ngại vi khuẩn bây giờ có thể trao đổi các gen kháng thuốc với nhau. Lời cảnh báo được đưa ra trong cộng đồng vi sinh học vào năm ngoái, khi các gen trao đổi kháng colistin đầu tiên được phát hiện tại Trung Quốc.
Ngay từ khi báo cáo được công bố, cộng đồng y tế toàn cầu đã theo dõi sát sao và tìm kếm sự xuất hiện của các gen này. Các trường hợp đã được ghi nhận tại Châu Âu, Canada và bây giờ là Mỹ. Kết quả xét nghiệm của người phụ nữ tại Pennsylvania cho thấy không có một liều lượng colistin an toàn nào có thể được sử dụng để điều trị cho cô.
Gen mcr-1 đã được xác nhận phải chịu trách nhiệm cho trường hợp này. "Việc phát hiện ra gen này yêu cầu sự giám sát liên tục để xác định các nguồn chứa của nó trong cộng đồng. Xa hơn nữa, rất quan trọng là ngăn chặn sự lây lan của nó", các nhà khoa học viết trong báo cáo.
Cơn ác mộng của loài người đã đến: vi khuẩn kháng tất cả các loại thuốc được phát hiện tại Mỹ - Ảnh 2.
 Vi khuẩn E. coli trước đây cũng có thể mang gen kháng thuốc mcr-1.
Bên cạnh trường hợp đầu tiên được xác nhận trên người, trước đây Trung tâm Phòng chống và kiểm soát dịch bệnh và Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ cũng đã nghiên cứu một trường hợp khuẩn E. coli mang mcr-1 gây nhiễm trùng ở lợn. Mặc dù chưa có bằng chứng, các quan chức Mỹ đang lo ngại rằng có mối liên hệ giữa hai trường hợp này.
Khi các gen có thể được trao đổi giữa các vi khuẩn với nhau, nó sẽ làm trầm trọng thêm tình hình của cuộc khủng hoảng kháng kháng sinh đang diễn ra trên quy mô toàn cầu. Vì vậy, một phản ứng khẩn cấp đang được tiến hành để ngăn chặn sự lây lan của mcr-1.
Nói về trường hợp đầu tiên của mcr-1 được ghi nhận trên người tại Mỹ, giám đốc Trung tâm Phòng chống và kiểm soát dịch bệnh Hoa Kỳ cho biết: "Về cơ bản, điều này cho chúng ta thấy rằng đoạn cuối con đường không còn là rất xa đối với thuốc kháng sinh".
Tuy nhiên, tiến sĩ Gerry Wright, giám đốc Viện truyền nhiễm Michael G.DeGroote cho biết thậm chí nó đã được báo hiệu từ lâu. "Tôi cho rằng các gen đã có mặt từ lâu, chỉ là chúng ta chưa phát hiện ra chúng. Bởi vì bệnh nhân không có báo cáo du lịch, bạn có thể đoán chắc rằng mcr-1 đó là ở Mỹ".

Theo Genk / Trí Thức Trẻ/K14
HỌC LIỆU ĐIỆN TỬ
LIÊN KẾT
TAG CLOUD
A http://sinhhoc.blogspot.com/ (12) Ảnh độc đáo (4) Bài báo khoa học (10) Bài báo quốc tế (6) Bài giảng-Giáo trình (69) Bản tin CNSH (5) Biology books (1) Blog sinh học (3) Các cây hoa màu khác (3) Các nhà khoa học (3) Campbell (1) Câu chuyện khoa học (1) Cây lúa (11) Cây ngô (26) Chân dung nhà khoa học (4) Công nghệ lên men (1) Công nghệ mới (6) Công nghệ sinh học (62) Công nghệ thực phẩm (5) Công trình khoa học (14) Di truyền phân tử (3) DNA tái tổ hợp (1) Dự án (1) Đăng báo quốc tế (2) Đề tài (2) Đọc và suy ngẫm (3) Động vật học (28) Ebook Công nghệ sinh học (22) Ebook công nghệ thực phẩm (1) Ebook sinh học (81) Ebook thực vật (9) Ebook Y - Dược (3) English learn (1) Giáo dục và Khoa học (11) Góc nhìn cuộc sống (7) Góc tâm hồn (7) Hiện tượng sinh học (16) Hóa sinh (3) Khoa học và ứng dụng (3) kinh nghiệm đăng báo quốc tế (1) kỹ thuật SSR (1) Luận văn - Luận án (6) Luyện thi B1 B2 (3) Nghành CNSH làm gì (1) Nghiên cứu khoa học (1) Nông nghiệp (1) PCR và các kỹ thuật liên quan (2) Phần mềm dạy học (2) Phần mềm sinh học (15) Sách công nghệ thực phẩm (1) Sách sinh học (11) Sách sinh y (1) Sách Y khoa (1) Sinh học 12 (1) Sinh học phân tử (2) Sinh học phổ thông (3) Sinh học ứng dụng (3) Sinh vật học (8) SSR (1) Tế bào gốc (2) Thế giới tri thức (1) Thông báo (1) Thực vật học (37) Tin sinh và Thống kê (6) Tu dien sinh hoc (1) Tuyển dụng (6) Từ điển sinh học (1) Vi khuẩn (1) Vi sinh vật (26) Video clip (1) Video sinh học (3) Vui cười - Hài hước (12) Y học - Cuộc sống (125) Ý tưởng khoa học (10)