Danh sách Blog của Tôi

Bài viết được yêu thích

Chủ Nhật, 30 tháng 7, 2017

Từ nghiên cứu đến công bố, kỹ năng mềm cho nhà khoa học

0 nhận xét

Chủ Nhật, 16 tháng 7, 2017

Tư duy logic trong giải bài tập Sinh học

0 nhận xét

Tư Duy Logic Trong Giải Bài Tập Sinh Học, giúp các em biết cách suy luận và giải bài tập logic môn sinh học, các em nắm chắc kiến thức, mẹo giải nhanh các dạng bài tập sinh học, tự tin trong thi cử.


Tư duy logic trong giải bài tập Sinh học được biên soạn bởi Lê Thế Kiên – Sinh viên chuyên ngành Bác sĩ đa khoa, Đại học Y Hà Nội nội dung bài tập được chọn lọc từ rất nhiều nguồn tác giả từng trải qua. Chính vì thế các bạn học sinh có thể yên tâm dành trọn thời gian để khai thác cuốn sách mà không phải phân tán thời gian tìm tòi thêm tư liệu khác.
  • Phần 1: Di truyền học phần tử
  • Phần 2: Di truyền học Menden
  • Phẩn 3: Di truyền học Nhiễm sắc thể
  • Phẩn 4: Tương tác Gen
  • Phần 5: Di truyền học quần thể
  • Phần 6: Đột biến
  • Phần 7: Di truyền người và bài toán xác xuất
  • Phần 8: Ứng dụng di truyền học

Quý bạn đọc có thể tải ebook về miễn phí Tư duy logic trong giải bài tập Sinh học
Nguồn: 123tailieufree.com; sachmoi,net


                                                                        Blog Sinh học là nơi chia sẻ sách báo, luận văn bài giảng và cập nhật thông tin về khoa học,  y tế, động thực vật, di truyền, và nhiều hơn nữa...

Thứ Hai, 3 tháng 4, 2017

Tối ưu hóa cho PCR nhanh hơn

0 nhận xét
Bạn đã thiết kế cặp mồi PCR để khuếch đại trình tự quan tâm và bạn sẵn sàng cho việc đó. Nhưng trừ phi bạn có sự bổ sung không ngừng của khuôn mẫu, enzyme polymerase và máy chu trình nhiệt với chức năng gradient – mà không kể đến thời lượng thời gian hay lòng kiên nhẫn – bạn chắc chắn không muốn dành tuần kế tiếp để tìm ra các điều kiện hoàn hảo cho phản ứng PCR của bạn. Ở đây là một số mẹo để giúp bạn thực hiện nhanh hơn (mặc dù chức năng gradient khá là tiện dụng)
Nhiệt độ gắn mồi và nhiệt độ nóng chảy
Công ty mà bạn đặt cặp mồi oligo sẽ cung cấp thông tin nhiệt độ nóng chảy (Tm) trong tài liệu mà họ gửi kèm với oligo. Tuy nhiên, tôi nhận thấy rằng các công ty khác nhau ước lượng Tm cũng hơi khác nhau, phụ thuộc vào phép tính mà họ sử dụng. Công cụ OligoAnalyzer trên trang web IDT thực sự hữu ích khi xác định nhiệt độ gắn mồi tối ưu để thiết lập các chu kì PCR của bạn.Tuy nhiên, nếu bạn muốn bản thân làm điều đó hơn, thì đây là công thức:
Tm= 2(A+T) + 4(G+C)
Trong đó, A,T,G,X bằng với số lượng của mỗi bazơ nitơ này trong trình tự mồi.
Nhiệt độ nóng chảy chịu ảnh hưởng bởi nồng độ muối đệm , pH, và nồng độ mồi, nhưng tôi đã nhận thấy điều này không đáng lo ngại. Kiểm tra lại rằng bất kì cấu trúc bậc hai không mong muốn nào đều có nhiệt độ nóng chảy dưới nhiệt độ gắn mồi lí tưởng (Ta) (tối thiểu thấp hơn 10oC) đáng kể. Điều này sẽ ngăn chặn bản thân các oligo khỏi sự khuếch đại trong PCR. Công cụ OligoAnalyzez cũng sẽ kiểm tra sự có mặt bất kì cấu trúc bậc hai nào khi thiết kế các oligo.
Tôi khuyên rằng nhiệt độ gắn mồi nên được đặt dưới mức nhiệt độ nóng chảy thấp nhất của mồi là 3oC. Ví dụ, nếu mồi xuôi của bạn có Tm là 62oC và mồi ngược có Tm là 61oC, tôi đề xuất thực hiện với Ta là 58oC.
Nếu bạn đủ may mắn để truy cập vào một chu trình nhiệt với chức năng gradient và đủ lượng khuôn mẫu để cài đặt PCR nhân đôi hay nhân ba lần, tôi đề nghị thử nghiệm một khoảng nhiệt độ gắn mồi và đánh giá Ta nào cung cấp kết quả tốt nhất.
Sử dụng touchdown PCR
Một trong những mẹo ưa thích của tôi là phương pháp touchdown PCR, trong đó một vài chu kì phản ứng PCR ban đầu được đặt ở nhiệt độ gắn mồi cao hơn. Sau đó Ta sẽ được giảm 1-2oC qua mỗi chu kì. Tôi đã thành công với kĩ thuật này. Vậy kĩ thuật này trông như thế nào?
Sử dụng ví dụ ở trên với nhiệt độ nóng chảy là 62oC và 61oC, tôi sẽ cài đặt Ta ở hai chu kì đầu là 63oC, hai chu kì kế tiếp là 62oC và sau đó là 61oC, 60oC và 59oC với tổng cộng 10 chu kì. Tiếp theo, tôi sẽ thực hiện 25 chu kì tại 58oC. Lợi ích của kĩ thuật này là các chu kì đầu tiên sẽ rất nghiêm ngặt, vì vậy rất khó xảy ra sự khuếch đại không đặc hiệu. Do đó, khi nhiệt độ gắn mồi trở dễ chấp nhận hơn, sẽ có một bể các sản phẩm khuếch đại mong muốn của bạn để cạnh tranh với bất kì trình tự không đặc hiệu cho việc gắn các mồi của bạn.
Hãy đảm bảo chu trình nhiệt của bạn thay đổi nhiệt độ một cách chính xác và hiệu quả. Tôi đã học được điều đầu tiên là bao nhiêu thời gian có thể bị lãng phí trong sự cố gắng tối ưu hóa các phản ứng PCR trên một cỗ máy mà nó hoạt động không chính xác. Một tín hiệu về chu trình nhiệt của bạn có lẽ không hoạt động chính xác là phản ứng diễn ra lâu hơn hơn so với bình thường. Bạn có thể đảm bảo mọi thứ là đang hoạt động đơn giản bằng cách bao gồm một mẫu đối chứng với mỗi lần chạy (VD: mồi, khuôn, điều kiện đệm mà bạn xác nhận trước đó).
DNA khuôn
Sử dụng khuôn chất lương! Ngoài ra, sử dụng quá nhiều DNA sẽ làm giảm độ đặc hiệu phản ứng và làm tăng sự khuếch đại các sản phẩm không mong muốn. Bởi vì phản ứng PCR là rất nhạy, thử sử dụng mẫu DNA ít nhất có thể. Bắt đầu với không quá 1 ng mẫu DNA cho khuôn plasmid , 10-40 ng cho mẫu cDNA hoặc lên tới 1 ug đối với các mẫu DNA genome.
Thời gian kéo dài
Bạn đã bao giờ tự hỏi rằng ai là người tìm ra chu trình luân nhiệt mà tất cả chúng ta sử dụng. Trong khi số lần biến tính và hồi tính vẫn khá không đổi, thời gian kéo dài có thể thay đổi đáng kể dựa vào kích thước sản phẩm khuếch đại. Quy tắc chung là cho phép một thời gian kéo dài là 60s cho mỗi sản phẩm khuếch đại có kích thước 1 kb. Ví dụ, nếu bạn khuếch đại một đoạn 2 kb, bạn sẽ cài đặt thời gian kéo dài là 120s cho mỗi chu kì. Đối với các sản phẩm khuếch đại ngắn hơn, thì giảm thời gian kéo dài. Đối với sản phẩm khuếch đại 200 bp, thời gian kéo dài từ 15 đến 20s là đủ. Quá nhiều thời gian kéo dài có thể tạo ra các sản phảm không mong muốn.
Lựa chọn enzyme Polymearae
Enzyme Taq DNA Polymease được sử dụng phổ biến cho phản ứng PCR. Enzyme Pyrococcus furiosus (PFU) polymerase không những được sử dụng phổ biến cho PCR mà còn có tỉ lệ sai sót thấp hơn so với enzyme Taq polymerase. Tuy nhiên, các enzyme khác nhau hoạt động ít nhiều hiệu quả đối với các khuôn khác nhau. Ví dụ, nếu vùng khuôn quan tâm của bạn chứa hàm lượng G-C cao (trên 65%), thì enzyme Accuprime DNA polymerase giàu G-C từ Thermo Scientific có lẽ hoạt động tốt hơn đối với phản ứng PCR của bạn.
Các thành phần dung dịch đệm (buffer)
Khi bạn mua enzyme polymerase,sẽ có một loại đệm đã tối ưu với enzyme đi kèm theo. Sử dụng đệm theo như hướng dẫn của nhà sản xuất được xem là sự đặt cược tốt nhất cho bạn. Tuy nhiên, điều quan trọng đó là để hiểu các thành phần của đệm và sự đóng góp của chúng tới hiệu quả PCR. Hầu hết các đệm là một sự kết hợp đơn giản của muối- như KCl và Mg2Cl2tại một điểm pH tối ưu.
Magie
Nồng độ magie có thể được thao tác để thay đổi hiệu quả và tính chính xác của phản ứng PCR. Đối với Taq DNA polymerase nồng độ magie tối ưu từ 1.5 đến 2 µM. Bởi vì các thành phần phản ứng và đệm có thể bắt giữ magie, vì thế điều cần thiết là tăng nồng độ magie. Khi biến đổi nồng độ này, cần có các sự điều chỉnh nhỏ (xấp xỉ sự bổ sung là 0.5 µM )
Mồi
Ai đó có thể đã dành cả ngày để bàn luận về “thiết kế tối ưu” cho mồi PCR (chiều dài, hàm lượng G-C, nhiệt độ nóng chảy, cấu trúc bậc hai,…). Tuy nhiên ở đây tôi muốn đề cập một cách đơn giản tầm quan trọng của việc tối ưu nồng độ mồi trong PCR. Nếu bạn thêm quá nhiều mồi, sẽ làm tăng khả năng liên kết không đặc hiệu hoặc thậm chí bắt cặp lẫn nhau. Như một quy luật chung, nồng độ mồi tổng số thường ở mức 1 uM. Để tăng độ đặc hiệu, có thể giảm xuống thấp ở mức 0.1 uM, tuy nhiên điều này có thể làm giảm hiệu suất PCR.
dNTP
Nồng độ của cac deoxynucleotides (dNTPs) có thể ảnh hưởng tới cả độ đặc hiệu và năng suất của PCR. Nồng độ dNTP quá cao sẽ làm giảm độ đặc hiệu, trong khi quá thấp sẽ làm giảm hiệu suất. Đối với muc đích của tôi, năng suất ít quan trọng hơn độ đăc hiệu,Vì vậy tôi sử dụng nồng độ dNTP 50 µM cho hầu hết các phản ứng. Tuy nhiên, bạn có thể tăng nồng độ lên tới 200µM để tăng hiệu suất.
Hi vọng những mẹo này sẽ giúp bạn tối ưu hóa phản ứng PCR nhanh hơn
Chúc may mắn!
Nguồn gốc bài viết: Biosizebio.com
Người dịch: Lê Thị Quỳnh Hoa

Thứ Ba, 28 tháng 2, 2017

Download Giáo trình sinh lý thực vật ứng dụng

0 nhận xét
Blog sinh học: Trong quá trình phát triển của mình, môn khoa học Sinh lý thực vật có hai hướng nghiên cứu chính:
– Hướng nghiên cứu Sinh lý – Hoá sinh: chuyên nghiên cứu bản chất các quá trình sống xảy ra trong cơ thể thực vật, từ đó tìm ra các biện pháp điều khiển một phần hay toàn bộ quá trình Sinh lý – Hoá sinh theo hướng có lợi cho con người trong điều kiện tự nhiên và nhân tạo như nghiên cứu các quá trình quang hợp, cố định nitơ phân tử (N2) và quá trình sinh trưởng, phát triển của cây v.v…
– Hướng nghiên cứu Sinh lý – Sinh thái: chuyên nghiên cứu mối quan hệ giữa các quá trình sinh lý và các yếu tố sinh thái (nước, nhiệt độ, ánh sáng, O2, CO2 và dinh dưỡng, đất…). Trên cơ sở đó tìm ra được các quy luật hoạt động của các quá trình sinh lý trong các điều kiện sinh thái xác định nhằm xây dựng mô hình sinh thái tối ưu cho các quá trình sinh lý giúp cây sinh trưởng, phát triển và cho năng suất cao, chất lượng tốt.  Sinh lý học thực vật còn được chia ra các chuyên khoa:
– Sinh lý thực vật đại cương: Chuyên nghiên cứu các chức năng sinh lý chung của thực vật.
– Sinh lý thực vật chuyên khoa: Nghiên cứu các quy luật sinh lý cho từng nhóm cây, từng cây như Sinh lý cây trồng, Sinh lý cây rừng, Sinh lý cây ăn quả, Sinh lý cây lúa, cây đậu tương, Sinh lý cây ngô, cây khoai tây v.v…
– Sinh lý thực vật ứng dụng.
Cơ sở biên soạn giáo trình
Những năm gần đây, Sinh lý học thực vật ngày càng tiếp cận với nhiệm vụ của thực tiễn sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, bảo quản và chế biến nông sản v.v… và nó có vai trò rất quan trọng cho các ngành sản xuất này. Do khuôn khổ giáo trình Sinh lý thực vật cơ bản có thời lượng giới hạn, không thể trình bày hết được những ứng dụng và khả năng ứng dụng của môn khoa học này vào sản xuất, trong khi những vấn đề ứng dụng vào thực tiễn sản xuất người kỹ sư nông học rất cần được trang bị.Trước bối cảnh đó môn học Sinh lý thực vật ứng dụng ra đời.
+  Đối tượng và nhiệm vụ của môn học Sinh lý thực vật ứng dụng
Hiểu rõ nguyên lý và ứng dụng vào đối tượng cây trồng. Vì vậy, nhiệm vụ chính của Sinh lý thực vật ứng dụng là nghiên cứu, ứng dụng những quy luật sinh lý của cây trồng đã biết vào thực tiễn sản xuất như :
• Các kiến thức về Sinh lý tế bào đã và đang được ứng dụng rộng rãi, hiệu quả trong công nghệ nhân giống vô tính cây trồng bằng con đường nuôi cấy mô (in vitro), giâm chiết cành (in vivo) để cung cấp cho sản xuất cây giống có chất lượng cao.
• Các kiến thức về trao đổi nước và dinh dưỡng khoáng được ứng dụng vào việc chuẩn đoán nhu cầu nước, dinh dưỡng  đối với cây.Từ đó có các biện pháp tưới nước, bón phân hợp lý cũng như ứng dụng trong công nghệ trồng cây không dùng đất, góp phần tạo nên một nền nông nghiệp sạch và bền vững.
• Các kiến thức về quang hợp giúp chúng ta đưa ra các biện pháp kỹ thuật điều khiển hệ quang hợp trong quần thể cây trồng để “kinh doanh” năng lượng ánh sáng mặt trời hiệu quả nhất.
• Những kiến thức về hô hấp đưa đến các biện pháp kỹ thuật bảo quản nông sản phẩm và ngâm ủ hạt giống, làm đất gieo hạt…
• Sự hiểu biết về sinh trưởng, phát triển của thực vật cũng như các chất điều hoà sinh trưởng thực vật đã và đang được ứng dụng rộng rãi trong nông nghiệp để điều khiển cây sinh trưởng, phát triển theo hướng có lợi cho con người.
Ngoài ra những kiến thức hiểu biết về Sinh lý học thực vật còn được ứng dụng trong điều khiển và khai thác các hệ sinh thái tối ưu, liên quan đến việc bảo vệ môi trường bền vững.
+  Kết cấu của giáo trình sinh lý thực vật ứng dụng: gồm 7 chương
Chương I : Nhân giống vô tính cây trồng .
Chương II: Điều khiển trao đổi nước và dinh dưỡng khoáng đối với cây trồng .
Chương III: Trồng cây không dùng đất .
Chương IV: Quang hợp của quần thể cây trồng .
Chương V: Điều khiển hô hấp trong trồng trọt và bảo quản nông sản phẩm.
Chương VI: Ứng dụng chất điều hoà sinh trưởng trong trồng trọt.
Chương VII: Điều chỉnh phát sinh hình thái của cây.
Trong quá trình biên soạn giáo trình này nhóm tác giả đã kết hợp những kiến thức của Sinh lý học thực vật với sự hiểu biết về các ứng dụng và khả năng ứng dụng của môn học này trong sản xuất . Do đó cuốn giáo trình này không chỉ là tài liệu học tập cần thiết cho sinh viên ngành nông học mà còn là tài liệu tham khảo cho tất cả những ai quan tâm đến lĩnh vực này.

Để học tốt hơn môn học này, nên tham khảo thêm một số tài liệu sau:
1. Lê Trần Bình, Hồ Hữu Nhị, Lê Thị Muội. Công nghệ sinh học thực vật trong cải tiến giống cây trồng. NXB nông nghiệp, Hà Nội, 1997.
2. Trần Minh Tâm. Bảo quản và chế biến nông sản sau thu hoạch. NXB Nông nghiệp, Hà Nội, 2002.
3. Nguyễn Quang Thạch, Hoàng Minh Tấn. Chất điều hoà sinh trưởng với cây trồng.  NXB Nông nghiệp, Hà Nội, 1993.
4. Vũ Văn Vụ. Sinh lý thực vật ứng dụng. NXB Giáo dục, Hà Nội, 1999.
Trân trọng giới thiệu đến quý bạn đọc!
EBOOK GIÁO TRÌNH SINH LÝ THỰC VẬT ỨNG DỤNG,  PGS.TS VŨ QUANG SÁNG (CB) ET AL., TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP I-HÀ NỘI

Chủ Nhật, 5 tháng 2, 2017

Giáo Trình Sinh Lý Thực Vật - Ts. Nguyễn Kim Thanh

0 nhận xét

Giáo Trình Sinh Lý Thực Vật - Ts. Nguyễn Kim Thanh



Chương 1: Sinh lý tế bào thực vật
Chương 2: Sự trao đổi nước của thực vật
Chương 3: Quang hợp của thực vật
Chương 4: Hô hấp của thực vật
Chương 5: Sự vận chuyển và phân bố các chất đồng hoá trong cây
Chương 6: Dinh dưỡng khoáng của thực vật
Chương 7: Sinh trưởng và phát triển của thực vật
Chương 8: Tính chống chịu sinh lý của thực vật với các điều kiện ngoại cảnh bất thuận

Thứ Sáu, 23 tháng 12, 2016

Sinh viên Công nghệ sinh học dùng chế phẩm nấm làm thuốc trừ sâu

0 nhận xét

Xuất phát từ thực trạng lạm dụng hóa chất trừ sâu hại trong nông nghiệp hiện nay, nhóm sinh viên ngành Công nghệ sinh học trường Đại học Công nghệ TP.HCM (HUTECH) đã nghiên cứu và sản xuất thành công chế phẩm nấm tím Paecilomyces lilacinus phòng trừ sâu hại cây trồng. Đây cũng chính là công trình đoạt giải Nhất tại Giải thưởng sinh viên nghiên cứu khoa học Euréka năm 2016.

Dùng nấm trừ sâu: giảm thiểu chi phí, bảo vệ môi trường
Việt Nam là một nước có thế mạnh sản xuất nông nghiệp, tuy nhiên hằng năm nước ta vẫn phải nhập khẩu một lượng đáng kể hóa chất trừ sâu hại cây trồng với giá trị lớn. Việc lạm dụng hóa chất trong nông nghiệp nói chung và phòng trừ sâu hại cây trồng nói riêng không những làm tăng chi phí sản xuất mà còn ảnh hưởng đến môi trường, làm giảm chất lượng nông sản, gây tác hại không nhỏ cho sức khỏe người sản xuất và người tiêu dùng.
Trước thực trạng đó, dùng chế phẩm sinh học trong nông nghiệp được coi là giải pháp hiệu quả để bảo vệ môi trường, phát triển nông nghiệp bền vững. Đây cũng là nền tảng cho công trình “Phân lập và sản xuất chế phẩm nấm Paecilomyces lilacinus phòng trừ một số loài sâu hại cây trồng” của nhóm sinh viên khoa Công nghệ sinh học - Thực phẩm - Môi trường HUTECH gồm Đỗ Anh Duy, Phùng Lê Kim Yến, Nguyễn Thị Xuân Hương.

Nhóm sinh viên HUTECH nhận Giải Nhất giải thưởng Euréka 2016
Bạn Đỗ Anh Duy chia sẻ: “Công trình nghiên cứu nhằm tìm kiếm các tác nhân sinh học - cụ thể là nấm tím có sẵn trong điều kiện tự nhiên của Việt Nam để sản xuất các chế phẩm sinh học trừ sâu. Hai mục tiêu lớn nhất của nhóm đối với đề tài này là khi áp dụng vào thực tiễn sẽ vừa giảm thiểu ngoại tệ nhập khẩu hóa chất vừa hạn chế được tình trạng ô nhiễm môi trường”.
TS. Nguyễn Thị Hai, giảng viên trực tiếp hướng dẫn đề tài, nhận xét: “Việc phân lập được chủng nấm Paecilomyces lilacinus từ bọ phấn trắng Bemisia tabaci hại rau tại thành phố Hồ Chí Minh đòi hỏi khá nhiều công sức, thời gian và là một thành công rất đáng khích lệ. Các đánh giá thử nghiệm trong phòng và ngoài đồng đã chứng minh chế phẩm sinh viên làm ra có hiệu quả phòng trừ nhiều loài sâu chích hút hại cây trồng mở ra triển vọng cho việc sử dụng chủng nấm như một chế phẩm sinh học trừ sâu hại trên nhiều loại cây trồng”.
Được biết, được hội đồng khoa học đánh giá cao ở tính thực tiễn và khả năng ứng dụng, công trình nghiên cứu chế phẩm sinh học trừ sâu từ nấm tím Paecilomyces lilacinus là công trình thứ ba liên tiếp giành giải Nhất tại sân chơi Euréka của sinh viên HUTECH. Đặc biệt, sản phẩm của đề tài hiện đang được công ty Sitto Việt Nam thử nghiệm trên cây tiêu và các cây trồng ăn quả khác trước khi đưa vào sử dụng trên diện rộng.
HUTECH - nơi chắp cánh những đam mê khoa học trẻ
Là trường đại học đào tạo đa ngành, hơn 20 năm qua HUTECH luôn chú trọng trong phong trào nghiên cứu khoa học - đặc biệt là ở nhóm ngành thế mạnh Công nghệ sinh học, Công nghệ Thực phẩm, Kỹ thuật Môi trường. Trong đó, sinh viên ngành Công nghệ sinh học liên tục đạt được những thành tích xuất sắc nhất tại các giải thưởng nghiên cứu, học thuật lớn như: Giải thưởng Tài năng khoa học trẻ Việt Nam, Giải thưởng Nghiên cứu khoa học Eureka, Cuộc thi “Công nghệ sinh học – Hành trình hướng đến tương lai”, Cuộc thi “Môi trường & con người”,…
Sinh viên HUTECH được học tập trong môi trường chuẩn quốc tế
Sinh viên HUTECH được học tập trong môi trường chuẩn quốc tế
Lý giải cho những kết quả này, PGS.TS. Thái Văn Nam – Phó Trưởng khoa Công nghệ sinh học – Thực phẩm – Môi trường HUTECH cho biết: “HUTECH có ưu thế là cơ sở vật chất được đầu tư liên tục, 100% sinh viên được học tập trong môi trường hiện đại, thực hành với các thiết bị tiên tiến trong hệ thống phòng thí nghiệm chuẩn quốc tế. Đây chính là nền tảng quan trọng để sinh viên dễ dàng theo đuổi các đề tài nghiên cứu giàu tính ứng dụng hoặc có thể làm việc ngay tại môi trường doanh nghiệp sau khi ra trường”.
Được biết, chương trình đào tạo ngành Công nghệ sinh học tại HUTECH trang bị nền tảng kiến thức toàn diện bao gồm vi sinh vật học, tế bào học, hóa sinh học, công nghệ lên men, công nghệ enzyme, sinh học phân tử, kỹ thuật gen, thương mại hóa các sản phẩm sinh học và phương pháp ứng dụng kiến thức vào sản xuất trong các lĩnh vực thực phẩm - dược phẩm, nông nghiệp - thủy sản và xử lý - bảo vệ môi trường. Cạnh đó, sinh viên liên tục hoàn thiện các kỹ năng thuyết trình, giải quyết tình huống, làm việc nhóm, tiếng Anh,... thông qua các đề tài nghiên cứu theo nhóm và nghiên cứu cá nhân, các cuộc thi học thuật và hoạt động ngoại khóa.
Trên 95% sinh viên HUTECH ra trường có việc làm ngay sau khi tốt nghiệp
Trên 95% sinh viên HUTECH ra trường có việc làm ngay sau khi tốt nghiệp
Thêm vào đó, sự hợp tác chặt chẽ giữa HUTECH và các doanh nghiệp, viện nghiên cứu tạo điều kiện để sinh viên luôn có cơ hội được thực tập, thực hiện đề tài nghiên cứu thực tế cũng như nắm bắt những cơ hội tuyển dụng tốt nhất ngay khi còn ngồi trên ghế giảng đường.
Thông tin chi tiết vui lòng liên hệ:
Đại học Công nghệ TP.HCM (HUTECH)
475A Điện Biên Phủ, P.25, Q. Bình Thạnh, TP.HCM
Điện thoại: (08) 5445 2222 - (08) 2201 0077
Nguồn: dantri,com,vn

Thứ Tư, 21 tháng 12, 2016

Giáo trình động vật

0 nhận xét
Giáo trình động vật học Tác giả: Lê Trọng Sơn
Phần thứ nhất - Động vật không xương sống
Chương 1 - Phân giới Động vật nguyên sinh (Protozoa)
Chương 2 - Trung động vật (Mesozoa) và Cận đa bào (Parazoa)
Chương 3 - Động vật đa bào hoàn thiện (Eumetazoa) Động vật đối xứng toả tròn (Radiata)
Chương 4 - Động vật Không có thể xoang (Acoelomata)
Chương 5 - Các ngành động vật Có xoang giả (Pseudocoelomata)
Chương 6 - Ngành Động vật Thân mềm (Mollusca)
Chương 7 - Ngành Giun đốt (Annelida)
Chương 8. Các ngành động vật Có miệng nguyên sinh kích thước nhỏ
Chương 9 - Ngành Chân khớp (Arthropoda)
Chương 10 - Động vật Có vành tua miệng (Lophophora)
Chương 11 - Ngành động vật Da gai (Echinodermata)
Phần thứ 2 - Động vật có xương sống
Chương 12. Ngành Nửa dây sống (Hemichordata)
Chương 13. Ngành Dây sống (Chordata)
Chương 14. Phân ngành Có xương sống (Vertebrata)
Chương 15. Lớp Cá Miệng tròn (Cyclostomata)
Chương 16. Lớp Cá sụn (Chondrichthyes)
Chương 17. Lớp Cá xương (Osteichthyes)
Chương 18. Lớp Lưỡng cư (Amphibia)
Chương 19. Lớp Bò sát (Reptilia)
Chương 20. Lớp Chim (Aves)
Chương 21. Lớp Thú (Mammalia)
Chương 22. Các bước phát triển tiến hoá và quan hệ phát sinh động vật

Thứ Hai, 19 tháng 12, 2016

Phần mềm và sách hướng dẫn sử dụng phần mềm MGLTools

0 nhận xét

Ebook Hướng dẫn sử dụng phần mềm MGLTools.

Được thực hiện bởi nhóm sinh viên: Trần Đức Luân - Nguyễn Bá Huy 
Phiên bản: 1.01



            Bài báo cáo này trình bày những khó khăn trong việc ứng dụng các công cụ hiện đại trong hỗ trợ nghiên cứu y sinh ở Việt Nam. Đồng thời giới thiệu quá trình xây dựng và nội dung tổng quan của bộ tài liệu tiếng Việt hướng dẫn sử dụng bộ công cụ MGLTools mà nhóm đã thực hiện. Kết quả đã biên soạn được bộ tài liệu “Tài liệu hướng dẫn sử dụng MGLTools” cũng như tài liệu dạng điện tử (ebook) phục vụ cộng đồng nghiên cứu y sinh ở Việt Nam

Mật khẩu tải: TUTMGLTools



                                                                        Blog Sinh học là nơi chia sẻ sách báo, luận văn bài giảng và cập nhật thông tin về khoa học,  y tế, động thực vật, di truyền, và nhiều hơn nữa...

Công nghệ Enzym

0 nhận xét


Công nghệ Enzym / Chủ biên:Đặng Thị Thu, Lê Ngọc Tú, Tô Kim Anh, Phạm Thu Thủy, Nguyễn Xuân Sâm

Hà Nội : Nông nghiệp, 2004

304 Tr. ; 25 cm

Bằng cách nào có thể trích ly được enzym và thu được chế phẩm enzym có độ tinh khiết cao? Bằng phương pháp nào có thể chế tác được chế phẩm enzym ở dạng không hòa tan để sử dụng được lâu bền. Enzym hòa tan và enzym cố định khác nhau về động học như thế nào? Đặc điểm của thiết bị phản ứng enzym và nguyên tắc làm việc của điện cực enzym như thế nào? Phạm vi và hiệu quả sử dụng của enzym trong nền kinh tế quốc dân như thế nào?
Các vấn đề nêu trên được trình bày trong các chương sau của cuốn sách “Công nghệ enzym”:
Chương 1. Công nghệ thu chế phẩm enzym – GS. Đặng Thị Thu, PGS. Lê Ngọc Tú
Chương 2. Enzym cố định (enzym không hòa tan) – GS. Đặng Thị Thu

Chương 3. Động học phản ứng enzym – PGS. Lê Ngọc Tú
.....

Thứ Bảy, 17 tháng 12, 2016

Giáo trình tiếng anh chuyên nghành Công nghệ thực phẩm - The language of techno-food processing in english

0 nhận xét
Giáo trình tiếng anh chuyên nghành Công nghệ thực phẩm
The language of techno-food processing in english



Tiếng Anh theo từng chuyên ngành rất khó vì có những đặc điểm riêng liên quan đến đặc thù của công việc. Tiếng Anh chuyên ngành công nghệ thực phẩm cũng vậy. Giáo trình tiếng anh chuyên nghành Công nghệ thực phẩm - The language of techno-food processing in english được biên soạn để cung cấp những kiến thức cơ bản thuộc các chuyên nghành Công nghệ thực phẩm.

Thứ Hai, 12 tháng 12, 2016

Những Kiến Thức Cơ Bản Về Công Nghệ Sinh Học

0 nhận xét
Cuốn sách Những Kiến Thức Cơ Bản Về Công Nghệ Sinh Học cung cấp cho độc giả những kiến thức cơ sở chủ yếu về công nghệ sinh học hiện đại với hy vọng là sau khi làm quen một cách có hệ thống với nội dung của cuốn sách, độc giả có thể dễ dàng đi sâu hơn vào từng lĩnh vực của công nghệ sinh học hiện đại. Do đó, nó mang tính chất là cuốn nhập môn cho ngành công nghệ sinh học và nhằm phục vụ cho bạn đọc thuộc nhiều tầng lớp xã hội khác nhau. 



Công nghệ sinh học (Biotechnology) là nghành khoa học mũi nhon hiện được cả thế giới quan tâm. Lý do của sự quan tâm này thật dễ hiểu. CNSH với tốc độ phát triển nhanh chóng không kém sự bùng nổ thông tin đang tạo ra một cuộc cách mạng sinh học không chỉ trong nông nghiệp và công nghiệp thực phẩm mà còn làm thay đổi phương thức sản xuất trong các nghành y dược, vật liệu mới, năng lượng ….

Hy vọng cuốn sách này sẽ được đông đảo bạn đọc hưởng ứng, đặc biệt là học sinh, sinh viên, giáo viên phổ thông và giảng viên đại học chuyên ngành sinh học, nông nghiệp, y tế, chế biến thực phẩm và bảo vệ môi trường.
Xin giới thiệu cuốn sách cùng bạn.

Tuyệt Đỉnh Luyện Đề Thi THPT Quốc Gia Môn Sinh Học

0 nhận xét
Được nghiên cứu bởi hơn 100 giáo viên nổi tiếng toàn quốc và khảo sát ý kiến của 2.000 bạn học sinh, bộ Tuyệt đỉnh tinh tuyển luyện đề thi THPT Quốc gia 2015 đang rất được cộng đồng các bạn sĩ tử mùa thi 2015 tin chọn

Tuyệt Đỉnh Luyện Đề Thi THPT Quốc Gia Môn Sinh Học - Phạm Thị Hương


Chỉ trong 1 thời gian ngắn sau khi xuất bản, Bộ “Tuyệt đỉnh Sinh học luyện đề thi THPT Quốc gia 2015” được giới chuyện môn đánh giá là một trong những bộ sách luyện đề thi thử có chất lượng rất tốt, học sinh nên chọn lựa là tài liệu luyện đề thi thử chuẩn bị cho mùa thi năm nay được Biên soạn theo chương trình mới nhất của Bộ Giáo dục và Đào tạo

Thứ Tư, 7 tháng 12, 2016

Từ Điển Tiếng Anh Chuyên Ngành Công Nghệ Sinh Học - The language of Biotechnology in English

0 nhận xét
Từ Điển Tiếng Anh Chuyên Ngành Công Nghệ Sinh Học - The language of  Biotechnology in English
The language of  Biotechnology in English

       Cuốn sách tiếng anh “ The language of  Biotechnology in English” (TACN) được biên soạn để cung cấp những kiến thức cơ bản thuộc các chuyên ngành Công nghệ sinh học- sinh học. Cuôn sách từ điển tiếng anh chuyên ngành công nghệ sinh học  này được biên soạn lại dựa trên cuốn “ the Language of Chemistry – Food and Biological in English” đã được xuất bản

Thứ Tư, 23 tháng 11, 2016

Giáo trình Vi sinh vật đại cương

0 nhận xét
          Blog sinh học: Ebooks này là những công trình nghiên cứu nhiều năm của các tác giả vì vậy để ủng hộ tác giả, bạn nên mua sách in hoặc mua 1 cách chính thức
Giáo trình Vi sinh vật đại cương - TS. Hoàng Hải 144 trang

Chủ Nhật, 20 tháng 11, 2016

Giáo Trình Di Truyền Học Sinh Vật Nhân Sơ Và Virut

0 nhận xét

         Blog sinh học: Ebooks này là những công trình nghiên cứu nhiều năm của các tác giả vì vậy để ủng hộ tác giả, bạn nên mua sách in hoặc mua 1 cách chính thức




Giáo Trình Di Truyền Học Sinh Vật Nhân Sơ Và Virut
NXB Giáo Dục 2011
Nguyễn Thị Hồng Vân, Bùi Thị Việt Hà
392 Trang

Giáo trình di truyền học sinh vật nhân sơ và virut là một môn học chuyên ngành dành cho sinh viên năm thứ tư, đặc biệt là dành cho học viên Cao học các chuyên ngành Vi sinh vật học và di truyền học tại Khoa Sinh học trường Đại học Khoa học tự nhiên, Đại học Quốc gia hà nội. Bên cạnh việc cung cấp những kiến thức cơ bản về di truyền học sinh vật nhân sơ và virus, giáo trình còn đề cập tới những kết quả nghiên cứu với các phát hiện mới gần đây của các nhà khoa học...

Chủ Nhật, 6 tháng 11, 2016

Download Từ Điển Sinh Học Anh Việt Và Việt Anh - 1702 Trang

0 nhận xét
Từ Điển Sinh Học Anh Việt Và Việt Anh
Lê Mạnh Chiến
1702 Trang


Cuốn từ điển sinh học Anh-Việt và Việt Anh này được xuất bản nhằm đáp ứng nhu cầu to lớn của bạn đọc hiện nay về từ điển khoa học công nghệ nói chung và từ điển chuyên ngành sinh học nói riêng.

Chủ Nhật, 16 tháng 10, 2016

Trọn bộ 80 Video Hóa sinh – Tiếng Việt

0 nhận xét



Hóa sinh học là môn học không thể thiếu với sinh viên y khoa.
Bộ video này gồm 80 video được bạn Nguyễn Đức Vượng tổng hợp cho chúng ta một cái nhìn chi tiết về Hóa sinh. Các video đã được dịch ra tiếng Việt để mọi người dễ dàng học hỏi

Hi vọng bộ video sẽ là một tài liệu hữu ích cho mọi người!









Thứ Năm, 13 tháng 10, 2016

DNA: Mật mã nhỏ xíu đang lật đổ thuyết tiến hóa

2 nhận xét
Những khám phá về DNA chính là cái gót chân Achilles của thuyết tiến hóa, theo Tiến sĩ Stephen Meyer. Ông nhận xét: “Các nhà tiến hóa vẫn cố áp dụng tư duy của Darwin trong thế kỷ 19 vào hiện thực của thế kỷ 21, nhưng tư duy ấy không còn thích ứng được nữa… Tôi nghĩ cuộc cách mạng thông tin xảy ra trong sinh học đang gióng lên hồi chuông báo tử đối với học thuyết Darwin và các lý thuyết tiến hóa hóa học”.
Đó là một trích đoạn từ bài báo “DNA, mật mã nhỏ xíu đang lật đổ thuyết tiến hóa” của Mario Seiglie. Dưới đây là bản dịch của PVHg’s Home, hân hạnh giới thiệu với độc giả.
Đây là bài viết thứ 5 trong chuyên đề Cuộc khủng hoảng mang tên thuyết tiến hóa
Tính phức tạp của thông tin của DNA chứng tỏ tiến hóa là điều bất khả. (Ảnh: Shutterstock)

—***—
Năm 1953, James Watson và Francis Crick đạt được một thành tựu phi thường – khám phá ra cấu trúc di truyền nằm sâu bên trong hạt nhân tế bào. Vật liệu di truyền này được gọi là DNA, viết tắt của cụm từ deoxyribonucleic acid (tiếng Pháp là ADN).
Việc khám phá ra cấu trúc xoắn kép của phân tử DNA đã mở cửa cho các nhà khoa học lao vào nghiên cứu mật mã được cài đặt trong đó. Đến nay, hơn nửa thế kỷ đã trôi qua kể từ khám phá đầu tiên, mật mã của DNA đã được giải, mặc dù còn nhiều phần vẫn chưa hiểu rõ.
Những gì đã được khám phá chứa đựng những gợi ý sâu xa đối với thuyết tiến hóa của Darwin – lý thuyết được dạy tại các trường học trên khắp thế giới, trong đó nói rằng mọi thực thể sống đã tiến hóa thông qua biến dị và chọn lọc tự nhiên.

Những phát hiện đáng kinh ngạc về DNA

Khi các nhà khoa học bắt đầu giải mã phân tử DNA của người, họ tìm thấy một sự thật hết sức bất ngờ – một ngôn ngữ tinh tế bao gồm 3 tỷ chữ cái thuộc hệ di truyền. Tiến sĩ Stephen Meyer, giám đốc Trung tâm Khoa học và Văn hóa tại Viện Discovery ở Seattle, Washington, nói: “Một trong những khám phá phi thường nhất của thế kỷ 20 là: DNA quả thật có chứa đựng thông tin – những chỉ dẫn chi tiết để lắp ráp proteins – dưới dạng một mã số bốn chữ cái” [1].
Khó mà đo lường chính xác số lượng thông tin trong DNA của người, nhưng ước lượng nó tương đương với 12 bộ bách khoa toàn thư Britannica, gồm 384 cuốn sách dầy cộp lấp đầy 15m giá sách trong thư viện!
Nhưng kích thước thực tế của vật chất chứa đựng chúng lại nhỏ xíu – tất cả chỉ chứa trong 2 phần triệu milimét chiều dày – và theo nhà sinh học phân tử Michael Denton, một thìa café DNA có thể chứa toàn bộ thông tin cần thiết để tạo ra proteins của tất cả các loài sinh vật có mặt trên trái đất từ trước tới nay, và vẫn còn đủ chỗ để chứa toàn bộ thông tin trong mọi cuốn sách đã được viết.
Vậy ai hoặc cái gì có thể làm cái công việc vĩ đại là thu nhỏ kích thước của vật chất chứa đựng khối lượng thông tin khổng lồ như thế, rồi đặt số lượng khổng lồ các “chữ cái” đó vào trong một chuỗi thích hợp của chúng như một cẩm nang chỉ dẫn di truyền? Liệu sự tiến hóa liên tục dần dần từng tí một như Darwin nói có thể tạo ra một hệ thống kỳ diệu như thế không?

DNA chứa đựng ngôn ngữ di truyền

Trước hết hãy xem xét một số đặc điểm của “ngôn ngữ” di truyền. Để một hệ thống tín hiệu được gọi là một ngôn ngữ, nó phải thỏa mãn các điều kiện sau đây: có một hệ chữ cái hoặc mã + có một cách đánh vần chính xác + có một ngữ pháp (một cách sắp xếp thích hợp của từ ngữ) + có ý nghĩa (ngữ nghĩa) + và có mục đích, có dụng ý.
Các nhà khoa học đã khám phá ra rằng mã di truyền có tất cả các điều kiện trên. Tiến sĩ Stephen Meyer giải thích: “Khu vực mã hóa của DNA có những tính chất thích đáng giống y như mã hoặc ngôn ngữ computer”.
Ngoài mã của DNA, chỉ có duy nhất một loại mã khác được coi là ngôn ngữ thực sự, đó là ngôn ngữ của con người. Mặc dù loài chó biết sủa khi chúng nhận thấy nguy hiểm, loài ong vo ve để báo cho nhau biết một nguồn thức ăn, loài cá voi phát ra âm thanh… đó là vài thí dụ về sự thông tin liên lạc của các loài khác, nhưng không có loài nào có đủ các điều kiện của một ngôn ngữ thực sự. Những thông tin ấy chỉ được xem như những tín hiệu liên lạc bậc thấp.
Những dạng thông tin liên lạc bậc cao chỉ bao gồm ngôn ngữ của con người + ngôn ngữ nhân tạo (ngôn ngữ computer, tín hiệu Morse…) + và mã di truyền. Ngoài ra không tìm thấy một hệ thông tin liên lạc nào khác thỏa mãn những đặc trưng cơ bản của một ngôn ngữ đích thực.
“DNA giống như một chương trình phần mềm, chỉ khác là nó vô cùng phức tạp hơn rất nhiều so với bất kỳ phần mềm nào do con người tạo ra từ trước tới nay”– Bill Gates, nhà sáng lập Microsoft
Vậy, bất kể thời gian kéo dài chừng nào, bất kể bao nhiêu biến dị và chọn lọc tự nhiên diễn ra đi nữa, một thứ phức tạp như DNA có thể nào được chế tạo ra một cách ngẫu nhiên thông qua tiến hóa không?

Ngôn ngữ của DNA không phải là phân tử DNA

Những nghiên cứu hiện nay trong lý thuyết thông tin đã đi đến một số kết luận làm ngỡ ngàng, rằng thông tin không thể xem như một dạng vật chất hoặc năng lượng. Vật chất và năng lượng chuyển tải thông tin, nhưng chúng không phải là bản thân thông tin.
Chẳng hạn cuốn sách Iliad của Homer chứa đựng thông tin, nhưng phải chăng nó chính là thông tin mà nó chứa đựng? Không, vật chất làm nên quyển sách (giấy + mực + keo dính) chứa đựng nội dung của quyển sách, nhưng chúng chỉ là những phương tiện chuyển tải nội dung đó.
Nguyên lý tương tự cũng tìm thấy trong mã di truyền. Phân tử DNA chuyên chở ngôn ngữ di truyền, nhưng bản thân ngôn ngữ ấy độc lập với vật chất chuyên chở nó. Thông tin di truyền ấy có thể được viết trong một cuốn sách, hoặc chứa trong một đĩa compact hoặc được gửi qua internet, nhưng nội dung của bản thông điệp không thay đổi bởi phương tiện chuyển tải nó.
Nhà sinh học George Williams giải thích: “Gene là một gói thông tin, thay vì một vật thể. Một mô hình của những cặp ba-zơ trong một phân tử DNA chỉ rõ một gene. Còn phân tử DNA chỉ là môi trường chuyên chở chứ không phải là bản thông điệp mà nó chuyên chở”.

Thông tin phải được tạo ra bởi một nguồn trí tuệ thông minh

Hơn nữa, dạng thông tin bậc cao trong DNA chỉ có thể bắt nguồn từ một nguồn trí tuệ thông minh.
Như nhà nghiên cứu biện giải Lee Strobel giải thích: “Dữ liệu tại phần cốt lõi của sự sống không hỗn độn, mà được sắp xếp trật tự ngăn nắp như những tinh thể muối, nhưng mức độ phức tạp của nó và thông tin nó chứa đựng cho phép nó có thể hoàn tất một nhiệm vụ phi thường – xây dựng những cỗ máy sinh học vượt xa khả năng công nghệ của con người”.

Chú thích ảnh trên: Khoa học vừa khám phá ra một mã thứ hai ẩn bên trong DNA đóng vai trò chỉ dẫn các tế bào kiểm tra các gene. Lâu nay hệ mã này bị che đậy vì một ngôn ngữ này được viết đè lên ngôn ngữ kia. Khoa học biết rằng mã di truyền sử dụng một bảng chữ cái có 64 chữ cái được gọi là các codon (mỗi codon là một bộ ba nucleotide liên tiếp trên gene). Một số codon có thể mang hai ý nghĩa – ý nghĩa thứ nhất liên quan đến việc lắp ráp protein, ý nghĩa thứ hai liên quan đến việc kiểm tra gene.
Qua đó có thể thấy mã DNA được thiết kế bởi một nhà thiết kế siêu thông minh, rất hiếm có biến dị, và nếu biến dị thì tế bào chế tạo ra sẽ hỏng, bệnh hoạn, chứ không phải là một tế bào mới cao cấp hơn. Nói cách khác, không có sự tiến hóa thông qua biến dị và chọn lọc tự nhiên. Thuyết tiến hóa là sai lầm, vì nó không biết gì về DNA.
Ngôn ngữ di truyền này có độ chính xác rất cao – lỗi trung bình chỉ ở mức 1 phần 10 tỷ chữ cái. Nếu một lỗi xảy ra trong một trong những phần quan trọng nhất của mã nằm trong các gene, thì nó sẽ gây ra một căn bệnh chẳng hạn như bệnh anemia (một bệnh giảm hemoglobin trong hồng cầu)… Trong khi đó, những thợ đánh máy thông minh và giỏi nhất thế giới cũng không thể đạt được trình độ chỉ mắc một lỗi trong 10 tỷ chữ cái – còn xa con người mới đạt tới độ chính xác như thế.
Vì thế niềm tin cho rằng mã di truyền có thể tiến hóa dần dần từng tí một theo kiểu của Darwin là không phù hợp với các quy luật tự nhiên đã biết về vật chất và năng lượng. Thật vậy, khoa học không hề tìm thấy bất kỳ một thí dụ nào về một hệ thông tin bên trong tế bào tiến hóa dần dần từng tí một để trở thành một hệ thông tin khác.
Michael Behe, một nhà sinh hóa tại Đại học Lehigh ở Pennsylvania, giải thích rằng thông tin di truyền đóng vai trò chủ yếu là một cẩm nang hướng dẫn. Ông viết:
“Hãy xem xét một bản liệt kê từng bước hướng dẫn di truyền. Một biến dị là một thay đổi trong một dòng lệnh trong số các dòng lệnh. Chẳng hạn, thay vì nói “lấy một quả hạch 1/4 inch”, một biến dị có thể nói nhầm là “lấy một quả hạch 3/8 inch”. Hoặc thay vì nói “đặt một cái chốt tròn vào cái hốc tròn”, một biến dị có thể nói nhầm là “đặt một cái chốt tròn vào cái hốc vuông”,… Cái mà một biến dị không thể làm là thay đổi toàn bộ các lệnh trong một bước, tức là không thể cung cấp các lệnh để tạo ra một chiếc máy fax thay vì cái radio” (trích Darwin’s Black Box, 1996, trang 41).
Do đó chúng ta có trong mã di truyền một cẩm nang hướng dẫn vô cùng phức tạp đã được thiết kế một cách tinh vi bởi một nguồn trí tuệ thông minh cao hơn con người rất nhiều.
Ngay cả một trong những người khám phá ra mã di truyền vừa mới qua đời là Francis Crick, sau nhiều thập kỷ làm việc giải mã, đã thừa nhận rằng:

Thuyết tiến hóa thất bại không trả lời được
Bất chấp những nỗ lực của tất cả các phòng thí nghiệm trên khắp thế giới trong nhiều thập kỷ qua, khoa học vẫn không sao chế tạo ra được một sợi tóc của con người. Và sẽ còn khó khăn đến thế nào nếu muốn chế tạo ra toàn bộ một con người gồm khoảng 100 ngàn tỷ tế bào.
Đến nay, các nhà tiến hóa theo Darwin cố gắng chống lại những người phê phán họ bằng những nỗ lực giải thích tính phức tạp của sự sống. Nhưng hiện nay họ phải đối mặt với tình trạng tiến thoái lưỡng nan: Làm thế nào mà những thông tin chính xác và giàu ý nghĩa lại có thể được tạo ra bởi biến dị ngẫu nhiên và chọn lọc tự nhiên? Cả hai cơ chế này (biến dị ngẫu nhiên và chọn lọc tự nhiên) đều không chứa đựng cơ chế thông minh, một đòi hỏi tất yếu phải có để tạo ra thông tin phức tạp như đã tìm thấy trong mã di truyền.
Thuyết tiến hóa của Darwin vẫn được dạy trong hầu hết các trường học như thể đó là chân lý. Nhưng nó ngày càng bị nhiều nhà khoa học nhận ra là một lý thuyết sai lầm. Một nhà khoa học vốn vô thần là Patrick Glynn nói: “25 năm gần đây, một người có lý trí nếu cân nhắc những bằng chứng thuần túy khoa học về vấn đề này, có lẽ sẽ phải giảm sút sự nghi ngờ đối với Đấng Sáng tạo. Tình hình không còn như thế nữa. Những dữ liệu cụ thể hiện nay hướng tới giả thuyết về sự sáng tạo của Chúa một cách rõ ràng. Đó là lời giải đơn giản nhất và rõ ràng nhất…”

Chất lượng của thông tin di truyền là như nhau ở các loài

Thuyết tiến hóa nói rằng thông qua những biến di ngẫu nhiên và chọn lọc tự nhiên, sinh vật tiến hóa. Tuy nhiên tiến hóa có nghĩa là biến đổi dần dần từng tí một những đặc tính xác định của sinh vật đến khi nó trở thành một loài khác, nhưng điều này chỉ có thể thực hiện được bằng cách biến đổi thông tin di truyền.
Vậy chúng ta thấy điều gì về mã di truyền? Dù là một con vi khuẩn tầm thường hay một cái cây hay một con người, chất lượng cơ bản của thông tin di truyền đều có độ chính xác như nhau. Mã di truyền của vi khuẩn ngắn hơn, nhưng chất lượng thông tin di truyền của nó cũng chính xác và tinh tế như của con người. Thông tin di truyền của vi khuẩn hay tảo hay con người trước hết đều phải đạt được yêu cầu của một ngôn ngữ bậc cao – có hệ chữ cái, ngữ pháp và ngữ nghĩa.
Theo Micheal Denton, nhà sinh học phân tử nổi tiếng của Anh-Úc, mỗi tế bào với thông tin di truyền, từ vi khuẩn tới con người, chứa đựng “những ngôn ngữ không tự nhiên mà có, cùng với hệ thống giải mã chúng, những ngân hàng bộ nhớ để cất giữ thông tin và những hệ thống kiểm tra và sửa lỗi tinh vi đóng vai trò điều khiển việc tự động lắp ráp các bộ phận và các thành phần, những cơ cấu đọc-sửa và tránh lỗi được sử dụng cho việc kiểm tra chất lượng thông tin, các quá trình lắp ráp liên quan tới nguyên lý đúc sẵn các bộ phận và xây dựng các mô-đun… và một khả năng vượt trội so với bất kỳ cỗ máy móc tiên tiến nhất nào của con người, sao cho có khả năng nhân bản toàn bộ cấu trúc của nó bên trong vật chất chỉ trong vài giờ đồng hồ”.
Vậy làm sao mà thông tin di truyền của vi khuẩn có thể tiến hóa dần dần từng tí một để biến thành thông tin của một loài khác, trong khi chỉ cần một hoặc một vài lỗi nhỏ trong hàng triệu chữ cái trong DNA của vi khuẩn là đủ để có thể giết chết nó?
Một lần nữa các nhà tiến hóa lại im lặng. Thậm chí họ không đưa ra được một giả thuyết nào để giải thích điều này. Lee Strobel viết: “DNA dài 1m8 cuộn bên trong một tế bào trong số một trăm ngàn tỷ tế bào của cơ thể chúng ta chứa đựng một bảng chữ cái gồm bốn ký tự hóa học cho phép đọc các chỉ dẫn lắp ráp chính xác đối với toàn bộ các protein tạo ra cơ thể chúng ta… Không hề có một giả thuyết nào được nêu lên để giải thích làm thế nào mà thông tin được cài đặt vào trong vật chất sinh học bằng các phương tiện ‘tự nhiên’”.
Werner Gitt, giáo sư về các hệ thông tin, nói một cách ngắn gọn: “Sai lầm cơ bản của toàn bộ các quan điểm của thuyết tiến hóa là ở vấn đề nguồn gốc của thông tin nằm trong các thực thể sống. Chưa bao giờ chúng ta có thể thấy một hệ mã và thông tin có ý nghĩa có thể bắt nguồn từ chính bản thân nó (thông qua vật chất)… Các định lý của khoa học thông tin tiên đoán rằng điều đó không bao giờ có thể xảy ra. Do đó một lý thuyết thuần túy vật chất về nguồn gốc sự sống sẽ bị bác bỏ”.

Mã số 4 chữ cái của DNA là tối ưu cho lưu trữ và sao chép

Bên cạnh toàn bộ bằng chứng chúng ta đã trưng ra đối với sự thiết kế thông minh của thông tin trong DNA, còn có một sự thật đáng kinh ngạc nữa – số lượng lý tưởng của các chữ cái di truyền trong mã DNA để cất giữ và phiên dịch.
Hơn nữa, cơ chế sao chép của DNA, để đáp ứng hiệu quả tối đa, đòi hỏi số chữ cái trong mỗi từ là một số chẵn. Với tất cả các tổ hợp toán học có thể có, số lượng lý tưởng để cất giữ và sao chép đã được tính toán cho bốn chữ cái.
Đây đúng là cái đã được tìm thấy trong các gene của mọi sinh vật trên trái đất – một mã số bốn chữ cái. Như Werner Gitt phát biểu: “Theo quan điểm công nghệ, hệ mã hóa được sử dụng cho sinh vật là tối ưu. Sự thật này củng cố quan điểm đây là một thiết kế có mục đích rõ ràng, thay vì một sự may rủi ngẫu nhiên”.

Sinh học phân tử ngày càng phủ nhận thuyết vô thần

Trờ lại thời Darwin, khi cuốn “Về nguồn gốc các loài” của ông được công bố năm 1859, cuộc sống xã hội có vẻ đơn giản hơn nhiều. Nhìn qua những kính hiển vi thô sơ thời đó, tế bào có vẻ như chỉ là một giọt dinh dưỡng hay một chất nguyên sinh không có gì phức tạp. Bây giờ, hơn 150 năm sau, sự quan sát đó đã thay đổi tận gốc khi khoa học khám phá ra một vũ trụ thực sự nằm bên trong tế bào.
Giáo sư Behe viết: “Trước đây người ta từng trông mong rằng cơ sở của sự sống là hết sức đơn giản. Nhưng sự trông mong này đã bị đổ vỡ. Sự nhìn, sự chuyển động, và các hoạt động sinh học khác đã chứng minh là chúng không kém tinh vi so với những máy quay truyền hình hoặc máy móc xe cộ. Khoa học đã đạt được những tiến bộ khổng lồ trong sự hiểu biết về hóa học của sự sống hoạt động thế nào, nhưng sự tinh vi và phức tạp của các hệ sinh học ở cấp độ phân tử đã làm tê liệt tham vọng của khoa học muốn giải thích nguồn gốc sự sống”.
Tiến sĩ Meyer coi những khám phá về DNA như cái gót Achilles của thuyết tiến hóa. Ông nhận xét: “Các nhà tiến hóa vẫn cố áp dụng tư duy của Darwin trong thế kỷ 19 vào hiện thực của thế kỷ 21, nhưng tư duy ấy không còn thích ứng được nữa… Tôi nghĩ cuộc cách mạng thông tin xảy ra trong sinh học đang vang lên hồi chuông báo tử đối với học thuyết Darwin và những lý thuyết tiến hóa hóa học”.


Tiến sĩ Meyer kết luận: “Tôi tin rằng lời chứng của khoa học xác nhận tư tưởng hữu thần. Trong khi luôn luôn sẽ có những điểm căng thăng hoặc xung đột chưa ngã ngũ, sự phát triển chủ yếu trong khoa học trong năm thập kỷ qua đã và đang hướng mạnh về phía hữu thần”.
Dean Kenyon, một giáo sư sinh học, phát biểu: “Lĩnh vực mới mẻ này về di truyền phân tử là nơi chúng ta thấy phần lớn bằng chứng ép buộc phải tin rằng có sự thiết kế trên Trái Đất”.
Ngay mới đây, một trong những nhà khoa học vô thần nổi tiếng, giáo sưAntony Flew, đã thừa nhận ông không thể giải thích làm thế nào mà DNA có thể được tạo ra và phát triển thông qua tiến hóa. Hiện nay ông chấp nhận sự cần thiết của một nguồn trí tuệ thông minh dính líu tới việc tạo ra mã DNA. Ông nói: “Những gì tôi nghĩ về sự hình thành DNA chỉ ra rằng trí thông minh ắt phải liên quan tới việc tập hợp những nguyên tố đa dạng phi thường này lại với nhau”.
Ghi chú:
[1] Tất cả các ý kiến của các nhà khoa học được trích dẫn trong bài này đều nằm trong các tài liệu tham khảo, đã liệt kê ở cuối bản dịch này. Độc giả nào cần truy tìm nguồn gốc chính xác của các trích dẫn đó, xin tìm trong nguyên bản tiếng Anh theo đường linh đã dẫn ở trên.
[1] The Case for a Creator, Lee Strobel, 2004
[2] Evolution: A Theory in Crisis , Michael Denton, 1996
[3] Defeating Darwinism by Opening Minds, Phillip Johnson, 1997
[4] Darwin’s Black Box, Michael Behe,1996
[5] Life Itself: Its Origin and Nature, Francis Crick, 1981
[6] God: The Evidence: The Reconciliation of Faith and Reason in a Postsecular World, Patrick Glynn, 1999
[7] In the Beginning Was Information, Werner Gitt, 2006
[8] “Leading Atheist Now Believes in God”, Richard Ostling, Associated Press report, 09/12/2004.
Mario Seiglie
Phạm Việt Hưng lược dịch - Theo trithucvn.net.

Lưu trữ Blog

HỌC LIỆU ĐIỆN TỬ
LIÊN KẾT
TAG CLOUD
A http://sinhhoc.blogspot.com/ (15) Ảnh độc đáo (4) Bài báo khoa học (12) Bài báo quốc tế (7) Bài giảng-Giáo trình (81) Bản tin CNSH (6) Biology books (1) Blog sinh học (4) Các cây hoa màu khác (3) Các nhà khoa học (3) Campbell (1) Câu chuyện khoa học (1) Cây lúa (11) Cây ngô (26) Chân dung nhà khoa học (4) Công nghệ lên men (1) Công nghệ mới (6) Công nghệ sinh học (64) Công nghệ thực phẩm (5) Công trình khoa học (14) Di truyền phân tử (3) DNA tái tổ hợp (1) Dự án (1) Đăng báo quốc tế (2) Đề tài (2) Đọc và suy ngẫm (3) Động vật học (29) Ebook Công nghệ sinh học (24) Ebook công nghệ thực phẩm (1) Ebook sinh học (85) Ebook thực vật (11) Ebook Y - Dược (3) English learn (1) Giáo dục và Khoa học (11) Góc nhìn cuộc sống (7) Góc tâm hồn (7) Hiện tượng sinh học (16) Hóa sinh (4) hướng dẫn sử dụng phần mềm (2) Khoa học và ứng dụng (3) kinh nghiệm đăng báo quốc tế (1) kỹ thuật SSR (1) Luận văn - Luận án (6) Luyện thi B1 B2 (3) luyện thi đại học (1) Nghành CNSH làm gì (1) Nghiên cứu khoa học (2) Nông nghiệp (4) Olympic Sinh học (1) PCR và các kỹ thuật liên quan (3) Phần mềm dạy học (2) Phần mềm sinh học (17) Sách công nghệ thực phẩm (3) Sách sinh học (14) Sách sinh y (1) Sách Y khoa (3) Sinh học 12 (1) sinh học đại cương (1) Sinh học phân tử (2) Sinh học phổ thông (5) Sinh học ứng dụng (3) Sinh vật học (8) SSR (1) Tế bào gốc (2) Thế giới tri thức (1) Thông báo (1) thông tin nông nghiệp (2) Thực vật học (37) Tin sinh và Thống kê (9) Tu dien sinh hoc (1) Tuyển dụng (6) Từ điển sinh học (3) Vi khuẩn (1) Vi sinh vật (27) Video clip (2) Video sinh học (5) Vui cười - Hài hước (12) Y học - Cuộc sống (126) Ý tưởng khoa học (10)