
Thứ Sáu, 27 tháng 5, 2016
Vi khuẩn kháng tất cả các loại thuốc được phát hiện tại Mỹ
Mức độ nhẹ hơn trước đây chỉ là các vi khuẩn đa kháng thuốc và kháng thuốc rộng.
Một phụ nữ ở tiểu bang Pennsylvania đã trở thành người Mỹ đầu tiên nhận xét nghiệm dương tính với một loại vi khuẩn có khả năng kháng tất cả các loại kháng sinh, ngay cả những dòng thuốc dùng trong trường hợp cuối cùng mà nhân loại sử hữu.
Trường hợp đầu tiên được ghi nhận này đã "báo hiệu sự xuất hiện thực sự của vi khuẩn kháng tất cả các loại thuốc", theo các chuyên gia y tế. Mức độ nhẹ hơn trước đây chỉ là các vi khuẩn đa kháng thuốc và kháng thuốc rộng. Đó có thể đồng nghĩa với "đoạn cuối con đường" cho thời đại thuốc kháng sinh.
Báo cáo của trường hợp được đăng tải trên tạp chí khoa học Antimicrobial Agents and Chemotherapy. Các nhà nghiên cứu đến từ Viện nghiên cứu Walter Reed Army, cơ sở khoa học y sinh lớn nhất của Bộ Quốc phòng Mỹ, chỉ ra vi khuẩn đã có mặt trong nước tiểu của một phụ nữ 49 tuổi.
Trước đó vào tháng 4, cô tới phòng khám ở Pennsylvania với các triệu chứng giống như nhiễm trùng đường tiết niệu. Mẫu nước tiểu của cô được gửi đến Trung tâm Y tế Quân đội Hoa Kỳ để thử nghiệm. Kết quả xét nghiệm dương tính với mcr-1, gen đang khiến vi khuẩn trở nên kháng tất cả các loại thuốc kháng sinh, bao gồm cả loại thuốc mạnh nhất cuối cùng, colistin.
Colistin là loại kháng sinh để chống lại các vi khuẩn có khả năng kháng kháng sinh mạnh nhất. Cho tới hiện nay, nó cẫn là công cụ mạnh nhất chúng ta sở hữu để điều trị vi khuẩn đa kháng thuốc. Tuy nhiên, các nghiên cứu mới ngày càng chỉ ra bằng chứng cho thấy rồi colistin cũng mất đi hiệu quả của nó.
Các nhà khoa học lo ngại vi khuẩn bây giờ có thể trao đổi các gen kháng thuốc với nhau. Lời cảnh báo được đưa ra trong cộng đồng vi sinh học vào năm ngoái, khi các gen trao đổi kháng colistin đầu tiên được phát hiện tại Trung Quốc.
Ngay từ khi báo cáo được công bố, cộng đồng y tế toàn cầu đã theo dõi sát sao và tìm kếm sự xuất hiện của các gen này. Các trường hợp đã được ghi nhận tại Châu Âu, Canada và bây giờ là Mỹ. Kết quả xét nghiệm của người phụ nữ tại Pennsylvania cho thấy không có một liều lượng colistin an toàn nào có thể được sử dụng để điều trị cho cô.
Gen mcr-1 đã được xác nhận phải chịu trách nhiệm cho trường hợp này. "Việc phát hiện ra gen này yêu cầu sự giám sát liên tục để xác định các nguồn chứa của nó trong cộng đồng. Xa hơn nữa, rất quan trọng là ngăn chặn sự lây lan của nó", các nhà khoa học viết trong báo cáo.

Vi khuẩn E. coli trước đây cũng có thể mang gen kháng thuốc mcr-1.
Bên cạnh trường hợp đầu tiên được xác nhận trên người, trước đây Trung tâm Phòng chống và kiểm soát dịch bệnh và Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ cũng đã nghiên cứu một trường hợp khuẩn E. coli mang mcr-1 gây nhiễm trùng ở lợn. Mặc dù chưa có bằng chứng, các quan chức Mỹ đang lo ngại rằng có mối liên hệ giữa hai trường hợp này.
Khi các gen có thể được trao đổi giữa các vi khuẩn với nhau, nó sẽ làm trầm trọng thêm tình hình của cuộc khủng hoảng kháng kháng sinh đang diễn ra trên quy mô toàn cầu. Vì vậy, một phản ứng khẩn cấp đang được tiến hành để ngăn chặn sự lây lan của mcr-1.
Nói về trường hợp đầu tiên của mcr-1 được ghi nhận trên người tại Mỹ, giám đốc Trung tâm Phòng chống và kiểm soát dịch bệnh Hoa Kỳ cho biết: "Về cơ bản, điều này cho chúng ta thấy rằng đoạn cuối con đường không còn là rất xa đối với thuốc kháng sinh".
Tuy nhiên, tiến sĩ Gerry Wright, giám đốc Viện truyền nhiễm Michael G.DeGroote cho biết thậm chí nó đã được báo hiệu từ lâu. "Tôi cho rằng các gen đã có mặt từ lâu, chỉ là chúng ta chưa phát hiện ra chúng. Bởi vì bệnh nhân không có báo cáo du lịch, bạn có thể đoán chắc rằng mcr-1 đó là ở Mỹ".
Hơn 90 tỷ đồng cho 1 bài báo quốc tế
Với 2.000 người, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam (VASS) trong 5 năm qua có tổng cộng 22 bài báo được đăng trên các tạp chí khoa học được công nhận bởi Viện Thông tin Khoa học ISI. Trong khi đó, kinh phí nhà nước "rót" xuống là trên 2.000 tỷ đồng (tương đương 90,6 triệu USD).
2.000 tỷ đồng và 22 bài báo ISI
Nhóm dự án S4VN (Trắc lượng Khoa học Việt Nam) vừa công bố bảng thống kê ISI (những bài báo được đăng trên các tạp chí khoa học được công nhận bởi Viện Thông tin Khoa học - Institute for Scientific Information - ISI) của Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội VN (VASS) giai đoạn 2011-2015
Theo đó, tổng cộng số lượng bài báo công bố ISI của VASS trong 5 năm qua là 22 bài (tổng số lượt trích dẫn là 63). Năm có kết quả cao nhất là 2013 với 7 bài (20 trích dẫn) và năm thấp nhất là 2011 với 2 bài (1 trích dẫn).
Mới đây, nghiên cứu sinh tiến sĩ Lê Ngọc Sơn (ĐH Công nghệ Ilmenau, Đức) tiếp tục đưa ra những con số về ngân sách cho VASS trong tương quan với những kết quả nổi bật mà VASS đạt được.
Cụ thể, trên cơ sở số liệu ngân sách nhà nước được công bố bởi Bộ Tài chính, anh Sơn cho biết, trong 5 năm (từ 2011 đến 2015), ngân sách nhà nước đã "rót" hơn 2.000 tỷ đồng tương đương 90,6 triệu USD cho VASS. Riêng năm 2015, Viện có 5 bài báo công bố quốc tế ISI và tổng chi phí tiêu tốn lên đến 504,5 tỷ đồng (khoảng 22,67 triệu USD).
Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam là nơi tập trung các nhà khoa học xã hội đầu ngành, với trên 2.000 người, trong đó hơn 700 cán bộ có học hàm giáo sư, phó giáo sư, học vị tiến sĩ khoa học, tiến sĩ, thạc sĩ thuộc các lĩnh vực khoa học xã hội, làm việc trong 5 đơn vị giúp việc Chủ tịch Viện, 32 đơn vị nghiên cứu khoa học, 5 đơn vị sự nghiệp khác (trong đó có 1 cơ sở đào tạo sau đại học và 2 nhà xuất bản).
Cùng với đó là nhiều viện nghiên cứu thành viên có trụ sở chính tại Hà Nội, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam có Viện Khoa học xã hội vùng Trung Bộ đặt tại thành phố Đà Nẵng, Viện Khoa học xã hội vùng Nam Bộ đặt tại thành phố Hồ Chí Minh, Viện Khoa học xã hội vùng Tây Nguyên đặt tại thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đăk Lăk.
Học viện Khoa học xã hội trực thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam là cơ sở đào tạo sau đại học về các ngành khoa học xã hội với 58 chuyên ngành đào tạo, trong đó có 44 chuyên ngành đào tạo tiến sĩ và 14 chuyên ngành đào tạo thạc sĩ. Ngoài ra, tại VASS còn có 32 tạp chí khoa học được xuất bản bởi các viện nghiên cứu thành viên.
"Những con số biết nói"
Xung quanh những số liệu nói trên đã có những tranh luận đáng chú ý. Theo anh Lê Ngọc Sơn thì đây là "những con số biết nói" khi chưa cần quan tâm đến chất lượng mà chỉ xét trên góc độ hiệu quả kinh tế và năng suất lao động. Anh Sơn cho rằng, đặt trong bối cảnh VASS có tới 2.000 người thì năng suất này không bằng một nhóm nhỏ các nhà khoa học châu Âu làm việc.
Một tài khoản Facebook là Tam Nguyên cho rằng, nếu chỉ xét riêng khía cạnh công bố bài báo ISI thì chỉ cần 1 triệu USD, nhiều phòng nghiên cứu của các trường đại học đều có thể làm được, thậm chí là làm được nhiều hơn. Tài khoản này dẫn chứng, quỹ khoa học công nghệ Nafosted chi khoảng 700-800 triệu đồng cho đầu ra là 2 bài báo ISI, như vậy với 1 triệu USD thì có thể làm được hàng chục bài báo ISI.
"Người tài ở Việt Nam không thiếu, vấn đề là họ có được đối xử công bằng và được cạnh tranh một cách lành mạnh hay không", tài khoản này nhận xét.
Trong khi đó, một ý kiến khác thì cho rằng, nói gì thì nói, VASS vẫn có nhiều công bố ISI hơn không ít các học viện, viện nghiên cứu khác ở Việt Nam.

Trao đổi với PV Dân Trí, anh Ng.V. Dũng, một người từng làm Tiến sĩ tại Đại học Missouri (Columbia, Missouri, Mỹ) nhẩm tính, với 90 tỷ đồng cho 1 đề tài, đây là một con số lớn. Tuy nhiên, anh cũng lưu ý rằng, chi phí của các nghiên cứu khoa học còn tùy thuộc vào tính chất đặc thù của lĩnh vực nghiên cứu, quy mô, phạm vi đề tài, sự phức tạp của đề tài.
"Có những đề tài mang tính kinh tế, xã hội rộng lớn sẽ tiêu tốn rất nhiều sức lực, tiền của và cả chi phí cơ hội, do đó, rất khó để nói cần bao nhiêu tiền cho một đề tài khoa học, và rằng 90 tỷ đồng/đề tài liệu có xứng đáng không. Chúng ta không phải là cơ quan đánh giá chuyên môn để kết luận, đánh giá được sự cần thiết, chất lượng của đề tài đó" - anh Dũng cho biết.
Ngoài ra theo anh, bên cạnh tiền chi trả cho hoạt động nghiên cứu khoa học tại Viện thì ngân sách còn được sử dụng cho chi trả các khoản chi thường xuyên (lương nhân viên, tiền máy móc, thiết bị, cơ sở hạ tầng, chi phí tiếp khách...). Riêng trong hoạt động nghiên cứu cũng không thể nói là đầu ra chỉ có 4-5 bài báo ISI hàng năm mà bên cạnh đó còn có những nghiên cứu khoa học cấp Bộ, cấp nhà Nhà nước; tham gia vào việc xây dựng những dự thảo mang tính chất kinh tế - xã hội, chính trị, tầm ảnh hưởng lớn.
Nói về công việc nghiên cứu khoa học, anh Phạm K, một người từng làm việc tại Đại học Tokyo (Nhật Bản) cho biết, anh nghiên cứu trong ngành ứng dụng công nghệ bán dẫn vào nghiên cứu cảm biến với kích thước cỡ micrometre, đây là một ngành học có tính đặc thù lớn.
"Nhiều máy móc rất đắt đỏ mà nhiều tập đoàn lớn cũng chưa hẳn đã mua được cho bộ phận nghiên cứu của công ty mình, có những máy giá tới hàng chục triệu USD. Chi phí thí nghiệm cho mỗi người tham gia nghiên cứu khoảng 200-300 USD/ngày, có những lúc tới 1.000 USD/ngày và do nhà trường chi trả" - anh K chia sẻ.
Anh K lưu ý thêm rằng, làm nghiên cứu khoa học khác với bộ phận phát triển của công ty, không chỉ nghiên cứu ra những công trình khoa học mang tính áp dụng thực tiễn mà bao gồm cả những công trình mang tính hàn lâm, các công trình khoa học cơ bản.
Do đó, chưa đề cập đến lương cho người làm nghiên cứu, những người làm khoa học trong các lĩnh vực như anh Khang ở nước ngoài dù muốn về nước làm việc cũng rất khó chủ yếu là do Việt Nam thiếu thốn thiết bị và tài nguyên. "Tài nguyên không chỉ là tiền mà còn là các mẫu vật liệu cần thiết cho nghiên cứu. Bên cạnh đó, còn có yếu tố con người như cần có đồng nghiệp, người hướng dẫn, những người có kinh nghiệm để học hỏi, trao đổi..." - anh K cho hay.
Tuy vậy, theo anh Ng.V. Dũng, rõ ràng người làm khoa học phải dồn công việc chính vào công tác khoa học nhưng cũng có những trường hợp các cơ quan nghiên cứu vẫn lạm dụng công quỹ để "chia chác" lẫn nhau, tiêu tiền vô tội vạ, đây là vấn đề cần kiểm soát kỹ.
Anh Dũng chia sẻ: "Thời còn ở Mỹ, trong trường có vị giáo sư nào, chỉ cần biết tên thì sinh viên trong trường đều có thể truy cập thông tin biết thu nhập của ông ta trong năm bao nhiêu, lương thế nào. Chỉ cần là những khoản sử dụng ngân quỹ công thì đều tra cứu được nguồn tiền đó đã được sử dụng như thế nào, chi trả cho những vấn đề gì, tất cả đều công khai. Đây là điều Việt Nam nên học hỏi".
Bích Diệp - Dantri.com.vn
Thứ Tư, 25 tháng 5, 2016
Gan hoạt động thế nào? - Video sinh học
Lá
gan của bạn, một cơ quan quan trọng cho sự sống. Lá gan, cơ quan lớn nhất trong
cơ thể bạn, đóng một vai trò sống còn trong việc điều hòa các diễn tiến của sự
sống của bạn. Cơ quan phức tạp này thực hiện nhiều chứ năng thiết yếu cho cuộc
sống. Bạn không thể sống mà không có nó.
Vị
trí của lá gan.
Gan nằm ở phía bên phải trong ổ bụng, đằng sau các xương sườn
(xem hình), cân nặng khoảng 1,2 kg---1,3kg và kích thước cỡ chừng quả bóng.
Các
chức năng của lá gan của bạn
Cơ quan phức tạp này thực hiện nhiều chức năng phức tạp như:
1. Biến đổi thức ăn thành
những chất cần thiết cho sự sống và phát triển.
2. Sản xuất ra nhiều chất
quan trọng sử dụng cho cơ thể.
3. Chuyển hoá các thuốc
được hấp thụ từ đường tiêu hoá thành dạng cơ thể có thể dùng được, và
4. Giải độc và bài tiết
các chất độc trong cơ thể.
Lá gan của bạn đóng một vai trò chính yếu trong việc biến đổi
thức ăn thành những chất thiết yếu cho cuộc sống. Tất cả lượng máu đi ra từ dạ
dày và ruột đều phải đi qua gan trước khi tới phần còn lại của cơ thể. Như vậy
lá gan nằm ở một vị trí chiến lược để chuyển đổi thực phẩm và thuốc được hấp
thụ từ đuờng tiêu hoáthành các dạng mà cơ thể có thể sử dụng một cách dễ dàng.
Về cơ bản, lá gan đóng vai trò của một nhà máy lọc và tinh chế
Hơn thế nữa, lá gan của bạn đóng một vai trò chính yếu trong
việc loại bỏ ra khỏi máu các sản phẩm độc hại sinh ra từ ruột hay nội sinh (do
cơ thể tạo ra). Gan chuyển đổi chúng thành những chất mà cơ thể có thể loại bỏ
dễ dàng. Gan cũng tạo ra mật, một chất dịch màu nâu hơi xanh lục cần thiết cho sự
tiêu hóa. Mật được dự trữ trong túi mật. Túi mật cô đặc vàtiết mật vào trong
ruột, giúp cho sự tiêu hóa.
Nhiều thuốc dùng trị bệnh cũng được chuyển hoánhờ gan. Những
thay đổi này chi phối hoạt tính của thuốc trong cơ thể.
Lá gan của bạn phục vụ bạn bằng cách:
· Tạo ra nặng lượng một
cách nhanh chóng khi cần thiết;
· Sản xuất ra protein
mới cho cơ thể;
· Ngăn ngừa sự thiếu hụt
năng lượng cơ thể bằng cách dữ trữ một số vitamin, khoáng chất và đường;
· Điều hoà sự vận chuyển
mỡ dự trữ;
· Giúp ích cho sự tiêu
hóa bằng cách tạo ra mật;
· Kiểm soát việc sản
xuất và bài tiết cholesterol;
· Trung hòa và loại bỏ
các chất độc;
· Chuyển hóa rượu;
· Kiểm soát và duy trì
nồng độ thích hợp của nhiều chất hoá học và nồng độ thuốc trong máu;
· Lọc máu vàthải các sản
phẩm cặn vào trong mật;
· Duy trì sự cân bằng
các nội tiết tố;
· Có vai trò của một cơ
quan tạo máu ở thai nhi;
· Giúp cơ thể chống lại
sự nhiễm trùng bằng các tạo ra các yếu tố miễn dịch và loại bỏ các vi khuẩn lưu
thông trong máu;
· Tái tạo mô tổn thương của
chính nó; và
· Dự trữ sắt.
Nguồn: TEDvn
Blog Sinh học là nơi chia sẻ sách báo, luận văn bài giảng và cập nhật thông tin về khoa học, y tế, động thực vật, di truyền, và nhiều hơn nữa...
Tế bào tự chết theo chương trình (Apoptosis) - Video sinh học
Tế bào tự chết theo
chương trình (Apoptosis)
Đây là một quá trình của sự được lập trình giúp cơ thể loại bỏ những tế bào không còn cần thiết, hoặc các tế bào bị tổn thương, sai hỏng mà có thể dẫn tới ung thư, giúp cho cơ thể luôn khỏe mạnh.
Quá trình bao gồm việc hình thành những chỗ phồng, việc tế bào bị mất phần bất đối xứng và các phần gắn lên màng tế bào, tế bào bị co rút lại, nhân tế bào bị phân chia thành từng mảnh nhỏ, nhiễm sắc chất bị co lại (xem bài kỳ trước) và ADN trong nhiễm sắc thể bị xắt nhỏ.
Đối với ung thư, tế bào tránh được quá trình này và do đó sinh sôi vô hạn tạo thành những khối u.
Nguồn: Nhật Bản Hải Dược (2014):
https://www.youtube.com/watch?v=CVCMEEmf-ss
Blog Sinh học là nơi chia sẻ sách báo, luận văn bài giảng và cập nhật thông tin về khoa học, y tế, động thực vật, di truyền, và nhiều hơn nữa...
Thứ Năm, 19 tháng 5, 2016
Giới khoa học họp bí mật, bàn về tạo hệ gene người
Các nhà khoa học tham dự cuộc họp kín tại Trường Y khoa Harvard không được phép liên lạc với cơ quan báo chí hoặc chia sẻ trên mạng xã hội.
Giáo sư Church trong cuộc họp thượng đỉnh quốc tế về vấn đề biến đổi gene do Viện Hàn lâm Khoa học Mỹ tổ chức ở Washington vào tháng 12 năm ngoái. Ảnh: AP.
Các nhà khoa học đang dự định tạo ra một hệ gene người, sử dụng các chất hóa học để cho ra đời mọi ADN thuộc nhiễm sắc thể của con người. Triển vọng trên thu hút sự tò mò và quan tâm của cộng đồng khoa học quốc tế bởi khả năng sử dụng hệ gene nhân tạo để tạo ra con người mà không cần cha mẹ sinh học có thể xảy ra thông qua nhân bản.
Theo New York Times, tuy dự án vẫn còn ở giai đoạn ý tưởng và bao gồm nỗ lực nhằm cải tiến phương pháp tổng hợp ADN, nội dung của nó đã được thảo luận tại một cuộc họp kín diễn ra hôm 10/5 ở Trường Y khoa Harvard tại Boston, Mỹ. Gần 150 nhà khoa học được yêu cầu không liên lạc với cơ quan báo chí hay đăng tải thông tin trên mạng xã hội trong thời gian tham dự cuộc họp.
Các nhà tổ chức cho biết dự án có thể mang lại thành tựu khoa học to lớn và là bước tiếp theo của Dự án Hệ Gene Người hướng đến đọc trình tự ba tỷ đơn vị hóa học trên bản đồ ADN của con người. Thay vì tập trung vào việc đọc, mục tiêu của dự án nối tiếp là viết lại hệ gene người bằng cách tổng hợp cả ba tỷ đơn vị từ chất hóa học.
Tham vọng trên dấy lên nhiều vấn đề về đạo đức, bao gồm khả năng tạo ra con người với một số đặc tính nhất định để trở thành chiến binh hoặc tạo ra bản sao của một người nổi tiếng nào đó. "Ví dụ, liệu có ổn không khi sắp trình tự và tổng hợp hệ gene của Einstein? Chúng ta nên tạo ra và lắp ghép vào tế bào bao nhiêu hệ gene của Einstein và ai sẽ là người sở hữu chúng?", Drew Endy, kỹ sư sinh học ở Đại học Stanford và Laurie Zoloth, nhà đạo đức sinh học ở Đại học Northwestern, chỉ trích dự án.
Tiến sĩ Endy, người có giấy mời tham gia cuộc họp, cho biết ông quyết định từ chối đến dự bởi dự án không công khai trước nhiều người và khía cạnh đạo đức của công trình chưa được cân nhắc đầy đủ.
George Church, giáo sư di truyền học ở Trường Y khoa Harvard, một trong những người đề xuất dự án, khẳng định đây là một sự hiểu lầm. Dự án không nhằm mục đích tạo ra con người mà chỉ tập trung vào tế bào và không chỉ hạn chế trong hệ gene người. Công trình hướng đến cải tiến khả năng tổng hợp ADN nói chung, có thể ứng dụng với nhiều loài động thực vật và vi sinh vật.
Church giải thích cuộc họp không công khai với phương tiện truyền thông và người tham gia được yêu cầu không thông báo trên mạng xã hội bởi những người tổ chức dự án đã gửi công trình nghiên cứu cho một tạp chí khoa học. Do đó, họ không được phép thảo luận vấn đề công khai trước khi công trình xuất bản. Church và những người khác trong ban tổ chức đã đề cập tới khía cạnh đạo đức của công trình ngay từ đầu.
Dự án lúc đầu có tên gọi Dự án tổng hợp hệ gene người (HGP2: The Human Genome Synthesis Project). Nội dung giấy mời dự họp cho biết mục đích cơ bản của cuộc họp tại Harvard là tổng hợp một hệ gene người hoàn chỉnh trên tế bào trong thời gian 10 năm. Nhưng vào thời gian cuộc họp diễn ra, tên gọi của nó đã đổi thành Thử nghiệm hệ gene tổng hợp lớn trên tế bào (HGP-Write: Testing Large Synthetic Genomes in Cells).
Ngoài tiến sĩ Church, ban tổ chức còn bao gồm Jef Boeke, giám đốc viện hệ thống di truyền học ở Trung tâm Y tế Langone thuộc Đại học New York và Andrew Hessel, nhà nghiên cứu làm việc tại công ty phần mềm Autodesk, người đầu tiên đề xuất dự án năm 2012.
Các nhà khoa học và công ty có thể thay đổi ADN ở tế bào bằng cách cấy thêm gene lấy từ bên ngoài hoặc thay đổi ký tự của các gene. Kỹ thuật này thường được dùng để tạo ra những loại thuốc như insulin cho bệnh đái tháo đường hoặc sản xuất cây trồng biến đổi gene.
Tuy nhiên, việc tổng hợp một gene hoặc toàn bộ hệ gene sẽ mang đến cơ hội tạo ra những thay đổi sâu rộng hơn trên ADN. Ví dụ, nhiều công ty đang sử dụng tổ chức sinh vật như men để tạo các hóa chất phức tạp như mùi và vị. Phương pháp này không chỉ đòi hỏi cấy thêm một gene vào men mà cần nhiều gene nhằm tạo ra quá trình sản xuất hóa học hoàn chỉnh bên trong tế bào.
Tổng hợp ADN vẫn là kỹ thuật khó và hay mắc lỗi. Kỹ thuật hiện nay chỉ cho phép tạo ra các đoạn gồm 200 cặp cơ bản và những cặp cơ bản này là đơn vị hóa học của ADN. Một gene có thể chứa hàng trăm hoặc hàng nghìn cặp cơ bản. Để tổng hợp gene thành công, các nhà khoa học sẽ cần tìm cách kết hợp nhiều đoạn ADN với nhau.
Phương Hoa - vnexpress.net
Chủ Nhật, 13 tháng 3, 2016
ĐẠO VĂN ? GS. NGUYỄN VĂN TUẤN/ tuan's blog 11/3/2016
ĐẠO VĂN ? GS. NGUYỄN VĂN TUẤN/ tuan's blog 11/3/2016

Tôi lại trở thành một đối tượng bị tấn công trong không gian mạng. Lần này, có người vu cáo rằng tôi đạo văn trong những bài hướng dẫn về cách viết bài báo khoa học. Tôi có thể khẳng định rằng tôi không hề đạo văn ai cả, nhưng tôi xin giải thích để bạn đọc an tâm.
Cách đây khá lâu, chắc cũng gần chục năm, tôi đặt cho mình mục tiêu quảng bá cách viết bài báo khoa học. Tôi sưu tầm những ví dụ từ bài vở, từ các bài báo khoa học trên các tập san như Science, Nature, NEJM, sách, báo chí, v.v. để viết những bài hướng dẫn về cách viết bài báo khoa học. Một số bài là của chính tôi đã công bố trên mấy tập san y khoa, một số bài là từ bạn tôi, một số từ sách. Lúc đó, tôi chỉ viết dưới dạng "note" và viết nhanh đăng trên website cá nhân. Tôi không dịch, mà chỉ đọc và nắm lấy ý chính, rồi viết lại theo kinh nghiệm cá nhân mình. Đây không phải là những bài báo, càng không phải là journal articles, mà chỉ là note, do đó tôi chưa quan tâm đến nguồn. Rất nhiều bài báo phổ thông cũng không cần đề nguồn. Thật ra, nhiều bài đều có đề nguồn. Vả lại, thời đại này, chỉ cần google là ra ngay.
Nhưng sau đó không lâu thì website của tôi bị đánh sập, nên mất hết bài vở. Sau này, tôi quay về blog, và phải sưu tầm lại những bài tôi đã bị mất. Đến khi tìm lại bài từ các trang blog khác, tôi gom góp về trang blog của mình. Nhưng cũng không đầy đủ, và đó chính là lí do tại sao bài vở trên trang blog rất rời rạc, chẳng có hệ thống gì cả. Và, cũng là lí do tại sao có bài thì ghi nguồn, có bài không có nguồn. Tuy nhiên, có note tôi ghi nguồn của các ví dụ, có note tôi không/chưa ghi nguồn vì tìm không ra chi tiết. Khi tìm ra chi tiết (do bạn đọc cung cấp) tôi ghi rõ nguồn. Thật ra, tôi chỉ lấy ví dụ để minh hoạ cho một điểm nào đó. Có những câu văn mang tính quá phổ biến (kiểu như "It has been shown that ...") thì tôi không nghĩ là cần đề nguồn.
Đến khi nhà xuất bản gom góp lại in thành sách, và có lẽ do áp lực thời gian, nên tôi không kiểm tra kĩ. Thật ra, một người như tôi mà làm như thế (không ghi nguồn) thì các bạn lên án nghiêm khắc là đúng, và tôi không hề giận dỗi. Tôi giận mình thì đúng hơn. Đó là do tôi sơ suất chứ hoàn toàn không đạo văn.
Một người như tôi, với kinh nghiệm viết rất nhiều bài báo khoa học và báo chí phổ thông thì tôi không đến nỗi thiếu chữ để đạo văn người khác. Tôi cũng từng giảng dạy về cách viết bài báo khoa học, trong nước cũng như ngoài nước, do đó tôi biết thế nào là đạo văn. Tôi nhấn mạnh là những gì tôi trích dẫn là ví dụ hoặc những đoạn mang tính phổ biến trong khoa học mà rất nhiều tác giả dùng. Do đó, cho rằng tôi đạo văn là không đúng. Nói rằng tôi sơ suất hoặc cẩu thả thì tôi chấp nhận. Và, tôi thành thật xin lỗi về sai sót đó.
Chúng ta, như tôi hay nói, học lẫn nhau. Các bạn nếu thấy tôi sai sót thì cứ viết cho tôi để chỉnh sửa. Rất nhiều bạn đọc đã làm như thế. Họ viết cho tôi yêu cầu chỉnh sửa từ câu văn, chính tả, đến nguồn gốc những con số và ý tưởng. Khi nhận được những thư như thế, tôi rất cám ơn, và hứa chỉnh sửa. Tôi thấy rất buồn khi có bạn không làm như thế mà la toáng lên rằng tôi đạo văn! Nếu các bạn ấy muốn hạ uy tín của tôi thì các bạn ấy đã ở mức độ nào đó thành công.
Những ai từng theo học trong các lớp học do tôi giảng dạy, hay những nghiên cứu sinh của tôi trong nước cũng như ngoài nước đều biết tôi là người như thế nào, và tôi đã làm gì. Tôi thấy không cần phải đính chính về ý định của mình.
Tôi đã tham gia sinh hoạt học thuật ở nước ngoài nhiều năm, đã từng ngồi trong các hội đồng hoà giải, nhưng chưa bao giờ chứng kiến những "đấu tố" học thuật như cá nhân tôi đang trải qua. Tôi hiểu rằng những gì mình đang hứng chịu là một loại "karma", nhưng tôi cũng muốn nói ra để các bạn biết rằng ở tuổi này, tôi đã và đang chứng kiến karma xảy ra cho mọi người, chứ chẳng riêng tôi. Tôi từng trích một câu nói của một hiền nhân [đại khái] rằng đạp đổ người ta xuống bùn thì rất dễ, nhưng tạo điều kiện để mình cùng với người ta đi lên và đi xa thì rất khó. Tôi chỉ mong muốn chúng ta đối xử với nhau một cách tử tế và trong tinh thần thân thiện.
Trong thực tế, tôi cũng là nạn nhân của nhiều vụ đạo văn. Người ta lấy bài của tôi rồi đăng lại, đề tên tác giả khác mà quên tôi. Nhưng vì trong blog nên tôi cũng chẳng có gì phàn nàn. Có người lấy bài của tôi viết luận án tiến sĩ, nhưng tôi cũng không phàn nàn, mà chỉ báo riêng cho bạn đó biết để ghi nguồn. Tôi không thấy giận và cũng chẳng cần phải lên án người ta, vì tôi muốn tìm cách giúp người ta tốt hơn.
Cả đời tôi chỉ tâm niệm cố gắng tìm mọi cách để giúp cho nền khoa học nước nhà tốt hơn. Những cách đó bao gồm cả đào tạo nghiên cứu sinh, hợp tác nghiên cứu khoa học, giảng dạy, và chuyển giao công nghệ. Tôi không nghĩ mình đã làm gì gây tổn hại đến nước nhà. Nhưng nếu tôi có làm gì gây khó chịu cho các bạn hay hiểu lầm, thì tôi thành thật xin lỗi. Tôi nói ra điều đó không chỉ đơn giản là một câu văn, mà là từ đáy lòng của tôi.
===
TB: Tôi cũng xin nói thêm là sau cái note này 1 tuần, tôi sẽ không xuất hiện trên facebook nữa. Tôi cảm thấy những gì mình đã làm với ý định đem lại lợi ích cho các bạn sinh viên và nghiên cứu sinh nhưng hoá ra lại đem phiền phức đến cho cá nhân mình! Tôi thành thật xin lỗi các bạn về quyết định có thể nói là khá đột ngột này. Tôi sẽ tập trung vào việc hoàn thành các dự án đang làm, kể cả một cuốn sách. Dĩ nhiên, các bạn vẫn có thể liên lạc tôi qua email khi cần giúp đỡ.
VỀ CHUYỆN ĐẠO VĂN
NGUYỄN VĂN TUẤN/ tuan's blog 12/3/2016
Đây là thư tôi viết cho Bs Võ Xuân Sơn, một người bạn của tôi, như là một giải thích về những lùm xùm trong thời gian qua liên quan đến cá nhân tôi.
Như anh biết, tôi đang ở giữa một tâm bão về những vu cáo. Thật là thời điểm không may mắn vì tôi đang viết đề cương nghiên cứu xin tài trợ cho năm tới (ở bên này, tháng này là tháng viết grant). Tôi xin giải thích sự việc như sau:
- Người ta vu cáo rằng tôi đạo văn trong bài hướng dẫn về cách viết đề cương nghiên cứu (1). Thật ra, tôi chẳng đạo văn của ai cả; đó là bài đúc kết kinh nghiệm của tôi về viết đề cương xin tài trợ. Trong bài có rất nhiều ví dụ về cách viết. Những ví dụ đó là từ đề cương NIH của chính tôi và của đồng nghiệp. Khi lấy ví dụ từ đồng nghiệp tôi có ghi rằng "tác giả viết", chứ đâu dám nói là mình viết (vì đó là chuyên ngành của người ta). Không thể xem đó là đạo văn. Sơ suất của tôi là không ghi tác giả là ai, mà thật ra tôi cũng không biết vì những tài liệu đó được phát trong một workshop. Dĩ nhiên, nếu biết tác giả là ai thì tôi ghi nguồn. Nến các bạn nghĩ tôi không đề nguồn là sai, thì tôi xin lỗi ngay tại đây.
- Còn trong cuốn "Từ nghiên cứu đến công bố", tôi cũng có dùng nhiều ví dụ về cách viết. Những ví dụ đó là từ bài báo của tôi và của đồng nghiệp. Tôi thấy không cần trích nguồn (hàng trăm) những cách viết có thể nói là rất phổ biến. Còn danh sách những câu văn mở đầu cho từng tình huống thì tôi có nói rõ là từ website nào và từ sách nào (chủ yếu là từ cuốn "English for Writing Research Papers" do Springer xuất bản 2011).
- Còn những bài trên blog về hướng dẫn cách viết bài báo khoa học thì tôi viết qua nhiều năm. Có bài có ghi nguồn, có bài không ghi nguồn. Tôi nghĩ đó là những bài không phải academic writing hay journal articles, nên tôi không đề nguồn. Có thể suy nghĩ đó sai, có thể suy nghĩ đó đúng. Nếu sai thì tôi sẽ sửa lại và ghi nguồn cho đúng và xin lỗi bạn đọc về sơ suất đó.
- Tôi đã từng nói rằng tôi không phải là "statistician", không phải là "giáo sư thỉnh giảng" hay "giảng viên cao cấp" của ĐH New South Wales. Tôi có bằng Masters về Statistics từ cuối thập niên 1990, và sau đó làm trợ giảng và theo học tiến sĩ về thống kê học ở ĐH Sydney, và có thời gian làm nghiên cứu ở Thuỵ Sĩ và Anh twin research. Chưa xong thì tôi được "chiêu dụ" về làm ở Viện Garvan cho đến nay. Dù vậy, tôi không bao giờ nhận mình là statistician. Tôi là người được bổ nhiệm chức danh giáo sư của ĐH New South Wales, chứ không phải "thỉnh giảng" hay "giảng viên cao cấp". Có bạn nói rằng không tìm thấy tên tôi trong trang web của Trường thì tôi chịu. Tuy nhiên, Trường có trang web về những công trình của tôi (2). Những thông tin sai về học vị do tôi hay do báo chí, thì tôi chịu trách nhiệm và tôi chân thành xin lỗi về những sai sót đó.
- Những giải thích của tôi vẫn còn trong fb của tôi, chứ tôi không có xoá. Nhưng vì hạn chế những thoá mạ trong thời gian qua, nên tôi để ở chế độ cho "friends" đọc. Tuy nhiên, kể từ hôm nay, tôi sẽ tạm ngưng fb trong một thời gian để tập trung vào việc viết đề cương nghiên cứu và các dự án khác.
- Tôi rất buồn trong vài ngày qua và cảm thấy sốc về cách hành xử của vài bạn. Ở bên này, khi một sự việc xảy ra liên quan đến cá nhân, người ta trao đổi lịch sự với nhau qua kênh cá nhân để tìm hiểu và minh bạch thông tin hơn, chứ không ai lại tung lên mạng xã hội như là đấu tố. Có bạn email riêng cho tôi nói rằng sẽ liên lạc báo chí và Viện Garvan để công bố những "đạo văn" của tôi. Tôi không thể ngăn cản các bạn ấy. Có thể tôi sẽ biến mất trong thế giới học thuật thì các bạn ấy hài lòng, và nếu đó là ý muốn thì tôi sẽ bình thản ra đi và chẳng trách ai cả.
Có một bạn bên Mĩ khuyên tôi là đừng dính dáng với người Việt nữa, và tôi đang suy nghĩ về lời khuyên này. Những ai từng tiếp xúc tôi, như anh Sơn chẳng hạn, đều biết những gì tôi đã và đang làm cho bạn bè và đồng nghiệp bên nhà. Những nỗ lực cá nhân hơn 15 năm qua tôi thấy cũng có nhiều hiệu quả khoa học mà người ngoài cuộc không thể nhìn thấy (như công bố quốc tế hay hội nghị khoa học, hay giúp nâng cao năng lực nghiên cứu). Nói ra như vậy không phải để biện minh gì cả, mà chỉ để nói rằng có nhiều việc tôi làm cho bên nhà mà các bạn ngoài cuộc và ngoài ngành không biết hết được (vì tôi không nói ra), nhưng tất cả chỉ là giúp đỡ chứ chẳng phải lợi lộc cá nhân gì.
====
(1) http://tuanvannguyen.blogspot.com.au/2012/10/cach-viet-e-cuong-nghien-cuu-khoa-hoc.html
Thứ Năm, 31 tháng 12, 2015
Sản lượng ngô Việt Nam: xu hướng phát triển và tiềm năng
Ngô là loại cây nông nghiệp có diện tích thu hoạch lớn thứ hai tại Việt Nam sau lúa gạo. Tuy nhiên, tại Việt Nam cây ngô lại chỉ được trồng ở những vùng đất mà những loại cây trồng khác có giá trị kinh tế cao hơn không phát triển được (như khu vực miền núi đất đai cằn cỗi, nghèo dinh dưỡng) hay những vùng đất khô hạn, thiếu nước tưới tiêu hoặc trồng xen canh với những cây trồng giá trị cao khác (như đậu nành ở vùng cao hay lúa gạo ở vùng đất thấp vào mùa hệ thống tưới tiêu không đủ để cung cấp). Do chỉ được trồng trong những điều kiện không thuận lợi như vậy mà cây ngô của Việt Nam thường không đạt được năng suất cao hoặc bị côn trùng và cỏ dại tấn công.
Ngô cùng một trong số loại cây trồng khác như khoai mì và gạo (gạo vỡ, cám gạo) được sử dụng trong ngành công nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi đang phát triển nhanh chóng. Tuy nhiên, các sản phẩm từ ngô ở trong nước lại không đáp ứng được nhu cầu của thị trường trong những năm gần đây. Vì thế, các nhà chế biến ngô phải chịu áp lực lớn trong việc tăng sản lượng nhằm đáp ứng nhu cầu tăng lên nhanh chóng của thị trường. Tăng năng suất trung bình bằng việc sử dụng các giống cây trồng năng suất cao được xem là phương án phù hợp nhất để đạt được mục tiêu của chính phủ trong việc tăng sản lượng ngô đáp ứng nhu cầu ngành sản xuất thức ăn chăn nuôi.
Tháng 3 năm 2015, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (NN&PTNT) đã thông qua quyết định số 69/QĐ-CT-CLT về việc công nhận ba giống ngô lai tạo mới của Công ty Syngenta. Đây là giống ngô lai tạo đầu tiên được chính thức công nhận và thương mại hóa tại Việt Nam.
Theo Bộ NN&PTNT, sản lượng ngô của Việt Nam năm 2014 đạt 5,19 triệu tấn, thấp hơn 105 nghìn tấn so với dự báo do sự thay đổi thời tiết tại miền Bắc Việt Nam đã dẫn đến việc vùng thu hoạch ngô bị thu hẹp.
Theo ước tính, trong năm 2015, vùng thu hoạch ngô sẽ tăng lên từ 1,2 triệu héc ta lên 1,25 triệu héc ta do chính sách mới của Chính phủ trong việc tăng diện tích trồng ngô từ việc chuyển đổi diện tích trồng lúa kém hiệu quả. Năng suất ngô trung bình dự kiến tăng nhẹ do việc sử dụng các giống ngô lại tạo mới. Trong năm 2015, sản lượng ngô tăng khoảng 300 nghìn tấn so với dự báo trước đó của USDA.
Sản lượng ngô Việt Nam niên vụ 2014/2015 và dự báo cho năm 2016
Đơn vị
|
2014
|
2015
|
2016
Dự báo
| |||
Cũ
|
Mới
|
Ước tính
|
Chỉnh sửa
| |||
Diện tích thu hoạch
|
nghìn ha
|
1.195
|
1.179
|
1.200
|
1.250
|
1.300
|
Năng suất
|
tấn/ha
|
4,43
|
4,4
|
4,45
|
4,5
|
4,6
|
Sản lượng
|
nghìn tấn
|
5.293
|
5.188
|
5.340
|
5.625
|
5.980
|
Nguồn: Bộ NN&PTNT, số liệu ước tính của USDA
Theo dự báo của Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ, diện tích thu hoạch ngô năm 2016 của Việt Nam tăng lên 1,3 triệu héc ta do chính sách của Chính phủ và việc cho phép phát triển các giống ngô lai tạo mới. Năm 2016, sản lượng ngô của Việt Nam dự báo sẽ tăng lên hơn 350 nghìn tấn đạt 5,98 triệu tấn. Đây có thể sẽ là sự thay đổi mang tính chất bước ngoặt của cây ngô Việt Nam nhờ vào những chính sách hoàn toàn mới của Chính phủ.
Bảng phía dưới đây sẽ chỉ rõ vùng trồng ngô quy hoạch theo vị trí địa lý. Vùng trung du và khu vực miền núi phía Bắc là khu vực có diện tích trồng ngô lớn nhất sau đó là Tây Nguyên.
Diện tích trông ngô theo khu vực địa lý (Đơn vị: nghìn ha)
2011
|
2012
|
2013
| |
Toàn quốc
|
1.121,3
|
1.156,6
|
1.172,5
|
Đồng bằng sông Hồng
|
96,0
|
86,4
|
88,3
|
Trung du và vùng núi phía Bắc
|
465,7
|
502,0
|
505,8
|
Bắc Trung Bộ và khu vực ven biển miền Trung
|
207,6
|
121,4
|
205,6
|
Tây Nguyên
|
232,6
|
246,9
|
252,4
|
Đông Nam Bộ
|
78,7
|
79,3
|
80,1
|
Đồng bằng sông Cửu Long
|
40,7
|
39,6
|
40,3
|
Nguồn: Tổng cục thống kê Việt Nam
Khu vực Tây Nam Bộ (bao gồm Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và ĐSBCL) mỗi năm có một vụ trồng ngô, thường bắt đầu từ giữa tháng 5. Khi vực miền Bức (ĐBSH, trung du và vùng núi phía Bắc, Bắc Trung Bộ và khu vực ven biển miền Trung) mỗi năm có ba vụ trồng ngô (vụ Xuân, vụ Thu và vụ Đông).
Theo Bộ NN&PTNT, vụ Xuân thường bắt đầu từ giữa tháng 2 cho tới giữa tháng 5; vụ Thu bắt đầu từ giữa tháng 5 cho tới đầu tháng 9; vụ Đông bắt đầu từ cuối tháng 9 cho tới đầu tháng 1.
Diện tích trồng ngô tại khu vực miền Bắc năm 2010
Vụ
|
Tổng
| |||
Xuân
|
Thu
|
Đông
| ||
Đồng bằng sông Hồng
|
32.560
|
12.000
|
53.040
|
97.600
|
Bắc Trung Bộ và khu vực ven biển miền Trung
|
48.920
|
34.380
|
52.000
|
135.300
|
Trung du và vùng núi phía Bắc
|
286.552
|
173.448
|
-
|
460
|
Tổng
|
368.920
|
219.448
|
105.040
|
692.900
|
Nguồn: Bộ NN&PTNT
Sản lượng ngô Việt Nam giai đoạn 2012-2016
GIÁ TRONG NƯỚC
Giá ngô trong nước liên tục giảm trong năm 2014 do sự sụt giảm về giá của ngô nhập khẩu bất chấp cơ cấu mùa vụ.
Giá ngô nội địa, giá ngô nhập khẩu từ Nam Mỹ (SAM) và ngô nhập khẩu từ Ấn Độ (VNĐ/kg)












